Create From Your Unique Version of Source

Posted on

angel wisdom nyc

archangel_michael_by_edcamp65rhhToday, Dear Ones, I wish to inspire you to search and develop your creativity.  It is when you have found that spark within yourself, you are deeply connected to your individual connection and expression of Source Energy.  Unfortunately, it has been the prevailing teaching from other religious factions that there is only one way to reach Source, through prayer or meditation.  But that is as far from the truth, the way to your connection to Source is as unique as you are.  Physical activity of almost any kind will release stress and toxins form your body.  This is preferred due to the difficulty to connect when the body is tense and full of fear.  The practice of maintaining your physical form, as well as clearing the food your eat, is very important to this endeavor.  Just ask the Love and Light from Source to clear your food of any…

View original post 399 từ nữa

Khiêm tốn: Một Đức Tính Quý hiếm

Posted on

Tin nhắn của Minh Sư El Morya,
Nhận được bởi Julie Miller,

Một trong những đức tính quý hiếm nhất trong cộng đồng toàn cầu của bạn là sự khiêm nhường. Thế giới của bạn có rất nhiều nhu cầu cạnh tranh với nhau, ngay cả đối với những điều nhỏ nhặt trong cuộc sống mà không có giá trị nào cho linh hồn. Có rất nhiều linh hồn tin rằng nếu họ muốn thành công, họ phải trở nên hung dữ. Chúng tôi đã chứng kiến sự lớn mạnh của các giáo lý sai lầm. Trong đó, lòng tự trọng đã bị huỷ hoại rất nhiều. Thực hành những giáo lý sai lầm nhiệt tình đến mức, nhiều linh hồn đã đi từ kiêu ngạo tới việc tự tôn thờ bản thân. Giữ trong tâm trí, cơ thể, trái tim của bạn tinh thần khiêm nhường, thực sự là một nét đẹp nội tâm thực sự có ý nghĩa và quý giá.

Sự khiêm nhường thực sự được hiểu là mỗi khi bạn làm một điều gì đó cho người khác mà không mong đợi bất cứ điều gì đền đáp trở lại. Người khiêm tốn cũng luôn luôn là chú ý đến mối quan hệ của mình với Thiên Chúa và gìn giữ mối quan hệ này với giá trị tuyệt vời. Một linh hồn thân yêu và khiêm tốn luôn tìm cách để xin Thiên Chúa biểu hiện qua bản thân trong mọi suy nghĩ và hành động. Mọi việc làm đều có nguồn gốc từ sự thuần khiết của trái tim. Mọi suy nghĩ, lời nói hay viêc làm của họ đều được thực hiện với tình yêu thương vô điều kiện. Hãy hiểu rõ rằng, hỡi những người thân yêu, khiêm tốn không phải là một điểm yếu. Khiêm tốn thực sự là một sức mạnh – một tính cách khiêm cung thực sự ở nội tâm bên trong lại tạo ra trí tuệ vô song. Chúng tôi nhìn thấy nhiều linh hồn khiêm nhường luôn có một tình yêu mãnh liệt với người xung quanh và kết nối rất tốt với các Đấng thiêng liêng từ trong bản chất của Linh hồn đó. Thông qua sự khiêm nhường, bạn thắp sáng tình yêu của Thiên Chúa giữa thế gian và chắc chắn Đức Thánh linh sống trong trái tim của bạn.
Nếu bạn nhìn vào định nghĩa của từ “khiêm tốn”, bạn có thể tìm thấy những từ đó mô tả một đức tính không phải là tự hào hay kiêu ngạo. Một số định nghĩa khác mô tả khiêm tốn như một người tôn trọng người khác. Khiêm nhường không có nghĩa là bạn sẽ bị đàn áp hay cảm thấy yếu đ. Sự khiêm tốn có thể hiểu trong trường hợp một Linh hồn sử dụng tự do Ý trí để tự mình vượt qua cảm giác tuyệt vọng , hoặc trong trường hợp kiên quyết hành động nhằm đạt được những gì linh hồn đó cần phải được thực hiện.

Khiêm tốn cũng là một sự tự đánh giá chính xác về chính bản thân bạn. Người khiêm tốn không nghĩ về bản thân cao hơn những gì bạn đang có. Người khiêm tốn luôn nhìn vào hành động và suy nghĩ của bản thân với sự quan sát ​​trung thực và rõ ràng, trong một mức độ đức tin và trí huệ mà Thiên Chúa đã ban cho bạn.

Khiêm nhường, tự bản thân đức tính này có một thái độ tự nhiên, nhẹ nhàng, dịu dàng và khéo léo. Người khiêm nhường không tìm cách để được nổi tiếng hay tự đề cao bản thân trong các mối quan hệ xã hội. Người khiêm nhường chỉ dịu dàng lặng lẽ hành động, khiêm tốn biểu lộ vinh quang của Thiên Chúa từ nội tâm trong tất cả các hành động, lời nói.

Hãy suy nghĩ về hai loại nghèo khó. Nghèo bởi hoàn cảnh và nghèo do lựa chọn. Nghèo bởi hoàn cảnh xảy ra khi không có cách nào nhận được thêm các mặt hàng vật liệu mong muốn. Còn những người nghèo do lựa chọn họ có thể nhận được nhiều tiện nghi hơn, nhưng họ lựa chọn sống cuộc sống đơn giản. Bằng cách sống một lối sống nghèo khó để đạt được thân người trong vinh quang của Thiên Chúa. Thông qua một đời sống giản dị vừa đủ đáp ứng nhu cầu vật chất , Tinh thần đạt được sự khiêm tốn và phong phú Tâm linh. Đại trí tuệ có thể được tìm thấy khi bạn hiểu rõ được tất cả những gì bạn cần. Chúng tôi, các Minh sư, đã quan sát thấy nhiều người không thể tìm thấy mức độ tự khai ngộ Tâm linh cho đến khi họ sống như một người nghèo khó. Hãy biết rõ, hỡi những người thân yêu, khiêm tốn là sự khôn ngoan đích thực của linh hồn trưởng thành về tinh thần. Khiêm tốn thực sự là khi bạn có thể hiểu rõ bạn là ai . Nội tâm bạn cảm thấy mãn túc đầy đủ . Bạn không còn tìm kiếm sự chú ý từ bên ngoài hay sự ủng hộ của người khác .

Khi bạn lắng nghe và yêu thương thông qua trái tim thì đã bao gồm cả sự khiêm tốn. Đó như là một phần của cuộc hành trình Tâm linh của bạn, bạn sẽ cảm thấy như cầu phải cầu nguyện và câu thông với Thiên Chúa.

Trên cuộc hành trình của bạn, đã có lúc bạn gặp trong cuộc đời những người đáng chú ý, và có thể bạn đã gặp một người có đức tính khiêm tốn. Một người khiêm tốn là một người khi tiếp xúc, bạn sẽ thấy hoàn toàn thoải mái – thư giãn cùng với sự hiện diện của người này. Bạn biết bạn có thể là chính mình và không bao giờ cần để cạnh tranh cho bất cứ điều gì với người đó. Bạn cảm thấn bình an vì họ vui vẻ và không phán xét . Đó là bởi vì trái tim của một người khiêm tốn thực sự chứa đầy tình yêu vô điều kiện. Thông qua sự khiêm tốn mà một người học về sự liên hệ của người đó với Thiên Chúa. Người khiếm tốn hiểu rõ rằng mỗi người đều bình đẳng trong mắt của Thượng Đế .
Nhưng hãy nhớ rằng, hỡi những người thân yêu, người khiêm nhường không phải là bị động hay là nhút nhát hay không dám hoạt động. Bạn nên hiểu rõ: khiêm tốn sẽ nảy sinh ra sự chấp nhận. Chấp nhận từ sự hiểu biết chính xác vị trí thực sự của bạn trong cộng đồng toàn cầu. Người khiêm tốn cũng như hiểu biết chính xác nhu cầu thiết yếu của bản thân cũng như nhu cầu của người xung quanh. Khiêm tốn sẽ tạo ra sự tự tin khi bạn nhận ra trong người đều có một Tia sáng Siêu phàm, trong mỗi người đều có Phật tính. Thông qua Tia sáng Thần thánh này, bạn được nhắc nhở để khám phá cá tính của bạn.Thông qua tìm hiểu, bạn sẽ nhận thấy bạn là một phần không thể tách rời toàn bộ. Thông qua sự khiêm tốn mà bạn khám phá ra con đường sẽ dẫn bạn đến sự toàn vẹn của bạn.
Khiêm nhường là khi hiểu đúng nhu cầu của bản thân. Sự khiêm tốn càng lớn thì càng cung cấp cho bạn sự hiểu biết rõ ràng bản thân. Nhiều bậc Thầy Tâm linh trên cõi trần gian đã nhận xét rằng : ​​khiêm tốn được nhìn nhận như là hiểu biết toàn bộ về sự thật bản thân của bạn trong thế giới bạn sống, không chỉ trong khu vực mà bạn sinh sống nhưng trên quy mô toàn cầu.
Chúa Giêsu Kitô là một tấm gương về tính cách nhẹ nhàng và khiêm tốn. Ngài không đòi hỏi để được tự hào hay để được lắng nghe, Ngài nói Lời Chúa và nói về tình yêu vô điều kiện cho tất cả những ai có lòng tin. Chúa Giêsu là một chứng minh rõ ràng về sự khiêm tốn cùng với thông minh sáng suốt. Ngài là một ví dụ về tính khiêm nhường đồng thời với một nội tâm mạnh mẽ đầy tự chủ.
Trong một đời sống nhẹ nhàng và tiến bộ. Cả Chúa Giêsu và Chúa Cha đầy lòng thương xót sẽ hướng dẫn bạn hướng tới một cuộc sống hoàn toàn và tràn đầy ân sủng. Trong đó sự khiêm tốn là dựa trên tình yêu vô điều kiện.

Và do đó, nó là …

Tôi là Minh sư El Morya
Truyền thông điệp qua Julie Miller

Sắp đến giờ chuyển động của mặt đất

Posted on

PRY: North Korea EMP attack could destroy U.S. — now

Obama must take immediate action

PRY: Tấn Công bằng xung điện từ (EMP) của Bắc Hàn có thể tiêu diệt HK – Bây giờ Obama phải hành động ngay.

Wednesday, December 19, 2012

North Korea now has an intercontinental ballistic missile (ICBM) capable of delivering a nuclear weapon to the United States, as demonstrated by their successful launch and orbiting of a satellite on Dec. 12. Certain poorly informed pundits among the chattering classes reassure us that North Korea is still years away from being able to miniaturize warheads for missile delivery, and from developing sufficiently accurate missiles to pose a serious nuclear threat to the United States. Philip Yun, director of San Francisco’s Ploughshares Fund, a nuclear disarmament group, reportedly said, “The real threat from the launch was an overreaction that would lead to more defense spending on unnecessary systems. The sky is not falling. We shouldn’t be panicked.”

Bắc Hàn bây giờ có một tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM) có khả năng đưa vũ khí hạt nhân đến Hoa Kỳ, như đã được chứng minh bằng cuộc phóng lên quỹ đạo thành công của một vệ tinh vào ngày 12 tháng 12. Một số học giả kém thông tin giữa các lớp học nói chuyện huyên thuyên đã trấn an chúng ta rằng Bắc Triều Tiên vẫn còn nhiều năm nữa mới có thể thu nhỏ các đầu đạn hạt nhân để cho hỏa tiễn đưa đi và mới có thể phát triển hỏa tiễn đủ chính xác để đặt một sự đe dọa hạt nhân nghiêm trọng đối với Hoa Kỳ. Philip Yun, Giám đốc của Quỹ San Francisco Ploughshares Fund, một nhóm giải trừ vũ khí hạt nhân, theo báo cáo đã cho biết: “Mối đe dọa thực sự từ cuộc phóng là một phản ứng thái quá sẽ dẫn đến chi tiêu quốc phòng nhiều hơn đối với các hệ thống không cần thiết. Bầu trời không sụp xuống. Chúng ta không nên hoảng sợ.”

In fact, North Korea is a mortal nuclear threat to the United States— right now.

Trong thực tế, Bắc Triều Tiên là một mối đe dọa hạt nhân chết người của Hoa Kỳ – ngay bây giờ.

North Korea has already successfully tested and developed nuclear weapons. It has also already miniaturized nuclear weapons for ballistic missile delivery and has armed missiles with nuclear warheads. In 2011, the director of the Defense Intelligence Agency, Lt. General Ronald Burgess, testified to the Senate Armed Services Committee that North Korea has weaponized its nuclear devices into warheads for ballistic missiles.

Bắc Triều Tiên đã thử nghiệm và phát triển vũ khí hạt nhân thành công. Họ cũng đã được thu nhỏ vũ khí hạt nhân để phóng đi bằng tên lửa đạn đạo và đã trang bị các tên lửa với đầu đạn hạt nhân. Trong năm 2011, Giám đốc Cơ quan Tình báo Quốc phòng, Trung tướng Ronald Burgess, đã chứng minh cho Ủy ban Dịch vụ vũ trang Thượng viện rằng Bắc Triều Tiên đã vũ khí hóa các thiết bị hạt nhân của họ thành những đầu đạn hạt nhân cho các hỏa tiễn đạn đạo.

North Korea has labored for years and starved its people so it could develop an intercontinental missile capable of reaching the United States. Why? Because they have a special kind of nuclear weapon that could destroy the United States with a single blow.

Bắc Triều Tiên đã lao động trong nhiều năm qua và bỏ đói dân của họ, để họ có thể phát triển một tên lửa liên lục địa có khả năng đến Hoa Kỳ. Tại sao ? Bởi vì họ có một loại vũ khí hạt nhân đặc biệt có thể hủy diệt Hoa Kỳ bằng một đòn duy nhất.

In summer 2004, a delegation of Russian generals warned the Congressional Electromagnetic Pulse (EMP) Commission that secrets had leaked to North Korea for a decisive new nuclear weapon — a Super-EMP warhead.

Mùa hè 2004, một phái đoàn tướng lãnh Nga cảnh báo Ủy Ban Xung Điện Từ (EMP) của Quốc Hội rằng các bí mật đã bị rò rỉ đến Bắc Triều Tiên về một vũ khí hạt nhân mới có tính cách quyết định – một đầu đạn hạt nhân siêu xung điện từ.

Any nuclear weapon detonated above an altitude of 30 kilometers will generate an electromagnetic pulse that will destroy electronics and could collapse the electric power grid and other critical infrastructures — communications, transportation, banking and finance, food and water — that sustain modern civilization and the lives of 300 million Americans. All could be destroyed by a single nuclear weapon making an EMP attack.

Bất kỳ vũ khí hạt nhân nào phát nổ trên độ cao 30 km sẽ tạo ra một xung điện từ sẽ phá hủy các thiết bị điện tử và có thể làm sụp đổ lưới điện và các cơ sở hạ tầng quan trọng khác – thông tin liên lạc, giao thông vận tải, tài chính ngân hàng, thực phẩm và nước – những phương tiện duy trì nền văn minh hiện đại và sinh mạng của 300 triệu người Mỹ. Tất cả có thể bị hủy diệt bởi một vũ khí hạt nhân duy nhất làm một cuộc tấn công xung điện từ.

A Super-EMP attack on the United States would cause much more and much deeper damage than a primitive nuclear weapon, and so would increase confidence that the catastrophic consequences will be irreversible. Such an attack would inflict maximum damage and be optimum for realizing a world without America.

Một cuộc tấn công siêu xung điện từ vào Hoa Kỳ sẽ gây ra thiệt hại sâu hơn nhiều so với vũ khí hạt nhân nguyên thủy, và như vậy sẽ làm tăng sự tự tin rằng hậu quả thảm khốc sẽ không thể đảo ngược được. Một cuộc tấn công như vậy sẽ gây thiệt hại tối đa và sẽ là điều kiện thuận lợi nhất để thực hiện một thế giới không có nước Mỹ.

Both North Korean nuclear tests look suspiciously like a Super-EMP weapon. A Super-EMP warhead would have a low yield, like the North Korean device, because it is not designed to create a big explosion, but to convert its energy into gamma rays, that generate the EMP effect. Reportedly South Korean military intelligence concluded, independent of the EMP Commission, that Russian scientists are in North Korea helping develop a Super-EMP warhead. In 2012, a military commentator for the People’s Republic of China stated that North Korea has Super-EMP nuclear warheads.

Cả hai vụ thử hạt nhân của Bắc Triều Tiên trông có vẻ như một vũ khí siêu xung điện từ. Một đầu đạn siêu xung điện từ sẽ có năng suất thấp, giống như các thiết bị của Bắc Triều Tiên, bởi vì nó không được thiết kế để tạo ra một vụ nổ lớn, nhưng để chuyển đổi năng lượng của mình thành những tia gamma, tạo ra hiệu ứng xung điện từ. Theo báo cáo quân báo Nam Hàn đã kết luận, một cách độc lập với Ủy Ban Xung Điện Từ, rằng các nhà khoa học Nga đang ở Bắc Triều Tiên để giúp phát triển một đầu đạn hạt nhân siêu xung điện từ. Vào năm 2012, một nhà bình luận quân sự cho Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa nói rằng Bắc Triều Tiên có đầu đạn hạt nhân siêu xung điện từ.

A Super-EMP warhead would not weigh much, and could probably be delivered by North Korea’s ICBM. The missile does not have to be accurate, as the EMP field is so large that detonating anywhere over the United States would have catastrophic consequences. The warhead does not even need a re-entry vehicle, as an EMP attack entails detonating the warhead at high-altitude, above the atmosphere.

Một đầu đạn hạt nhân siêu xung điện từ sẽ không cân nặng mấy, và có thể có thể được đưa đi bởi hỏa tiễn đạn đạo liên lục địa (ICBM) của Bắc Triều Tiên. Hỏa tiễn không cần phải chính xác, vì các lãnh vực sung điện từ lớn đến nỗi nổ bất cứ nơi nào trên Hoa Kỳ cũng sẽ có hậu quả thảm khốc. Đầu đạn hạt nhân không cần một chiếc xe để tái nhập, vì một cuộc tấn công xung điện từ đòi hỏi phải nổ đầu đạn ở độ cao lớn, trên bầu khí quyển.

So, as of Dec. 12, North Korea’s successful orbit of a satellite demonstrates its ability to make an EMP attack against the United States — right now.

Vì vậy, kề từ Tháng Mười Hai 12, sự đặt một vệ tinh vào quỹ đạo thành công của Bắc Triều Tiên chứng tỏ khả năng của họ có thể thực hiện một cuộc tấn công xung điện từ vào Hoa Kỳ – ngay bây giờ.

The Congressional EMP Commission estimates that, given the nation’s current unpreparedness, within one year of an EMP attack, two-thirds of the U.S. population — 200 million Americans — would probably perish from starvation, disease and societal collapse.

Ủy Ban Xung Điện Từ của Quốc Hội ước tính, cho rằng với sự thiếu chuẩn bị hiện nay của quốc gia, rằng trong vòng một năm của một cuộc tấn công xung điện từ, hai phần ba dân số Hoa Kỳ – 200 triệu người Mỹ – có lẽ sẽ bị chết vì đói, bệnh tật và sụp đổ xã hội.

Thus, North Korea now has an Assured Destruction capability against the United States. The consequences of this development are so extremely grave that U.S. and global security have, in effect, gone over the “strategic cliff” into free-fall. Where we will land, into what kind of future, is as yet unknown.

Như thế, Bắc Triều Tiên có khả năng phá hủy bảo đảm chống lại Hoa Kỳ. Các hậu quả của sự phát triển này thật là nghiêm trọng vì rằng HK và an ninh toàn cầu đã thực sự đi qua “vách đá chiến lược” để vào vùng rơi tự do. Chúng ta sẽ rơi vào đâu, vào loại tương lai nào, điều này chưa được biết rõ.

Nevertheless, some very bad developments are foreseeable. Iran will certainly be inspired by North Korea’s example to persist in the development of its own nuclear weapon and ICBM programs to pose a mortal threat to the United States. Indeed, North Korea and Iran have been collaborating all along.

Tuy nhiên, một số phát triển rất xấu có thể dự đoán được. Iran chắc chắn sẽ được cảm ứng từ gương của Bắc Triều Tiên để kiên trì trong việc phát triển vũ khí hạt nhân và các chương trình tên lửa đạn đạo liên lục địa để của riêng mình để đặt ra một sự đe dọa chết người đối với Hoa Kỳ. Thật vậy, Bắc Triều Tiên và Iran đã hợp tác với nhau từ đầu đến cuối.

If North Korea and Iran both acquire the capability to threaten America with EMP genocide, this will destroy the foundations of the existing world order, which has since 1945 halted the cycle of world wars and sustained the global advancement of freedom. North Korea and Iran being armed with Assured Destruction capability changes the whole strategic calculus of risk for the United States in upholding its superpower role, and will erode the confidence of U.S. allies — perhaps to the point where they will need to develop their own nuclear weapons.

Nếu Bắc Triều Tiên và Iran đều có được các khả năng đe dọa Mỹ với sự diệt chủng bằng xung điện từ, điều này sẽ phá hủy những nền tảng của trật tự thế giới hiện tại, từ năm 1945 đã dừng lại chu kỳ của các cuộc chiến tranh thế giới và duy trì sự tiến bộ tự do toàn cầu. Việc Bắc Triều Tiên và Iran được trang bị khả năng bảo đảm phá hủy sẽ thay đổi toàn bộ các tính toán chiến lược về nguy cơ đối với Hoa Kỳ trong việc duy trì vai trò siêu cường của mình, và sẽ làm xói mòn niềm tin của các đồng minh của HK – có lẽ đến mức họ sẽ cần phải phát triển vũ khí hạt nhân cho riêng mình.

Most alarming, we are fast moving to a place where, for the first time in history, failed little states like North Korea and Iran, that cannot even feed their own people, will have power in their hands to blackmail or destroy the largest and most successful societies on Earth. North Korea and Iran perceive themselves to be at war with the United States, and are desperate, highly unpredictable characters. When the mob is at the gates of their dictators, will they want to take America with them down into darkness?

Đáng kinh hãi nhất, chúng ta đang đi nhanh đến một nơi, lần đầu tiên trong lịch sử, mà những nước thất bại nhỏ như Bắc Hàn và Iran, những nước không thể nuôi nổi người dân của mình, sẽ có quyền lực trong tay của họ để tống tiền hoặc hủy diệt những xã hội lớn nhất và thành công nhất trên mặt đất. Bắc Triều Tiên và Iran tự nhận thức mình là đang chiến tranh với Hoa Kỳ, và là nhân vật tuyệt vọng rất khó đoán trước. Khi đám đông ở tại cửa các nhà độc tài của họ, có phải họ sẽ muốn đem Mỹ đi cùng với họ vào bóng tối không?

What is to be done?

Phải làm gì?

The president should immediately issue an Executive Order, drafted for the White House earlier by the Congressional EMP Commission, to protect the national electric grid and other critical infrastructures from an EMP attack. The Congress should pass the SHIELD Act (HR 668) now to provide the legal authorities and financial mechanisms for protecting the electric grid from EMP. The Congress should enhance Defense Department programs for National Missile Defense and Department of Homeland Security programs for protecting critical infrastructures.

Tổng thống phải lập tức ra lệnh hành pháp, dự thảo trước đó bởi Ủy Ban Xung Động Từ của Quốc Hội cho vào Tòa Bạch Ốc , để bảo vệ lưới điện quốc gia và các cơ sở hạ tầng quan trọng khác đối với một cuộc tấn công xung điện từ. Quốc Hội phải vượt qua Đạo luật Phòng Ngự (HR 668) bây giờ để cung cấp cho các cơ quan pháp luật và các cơ chế tài chính để bảo vệ lưới điện khỏi xung điện từ. Quốc Hội cần tăng cường các chương trình phòng thủ hỏa tiễn quốc gia của Bộ Quốc Phòng và các chương trình bảo vệ các cơ sở hạ tầng quan trọng của Bộ An Ninh Nội Địa.

The administration and the Congress owe the American people security from an EMP Apocalypse.

Chính quyền và Quốc Hội nợ dân Mỹ an ninh từ quyển khải huyền xung động từ.

Peter Vincent Pry is executive director of the Task Force on National and Homeland Security, and served on the Congressional EMP Commission, the House Armed Services Committee, and the CIA.

Peter Vincent Pry là giám đốc điều hành của Tổ công tác về an ninh quốc gia và an ninh nội địa và đã phục vụ trong Ủy ban Xung Động Từ của Quốc hội, Ủy ban Quân vụ Hạ viện, và CIA.

 

Mã bộ trạm trang công

Posted on Updated on

Trung Hoa có rất nhiều môn phái khí công. Về phương pháp luyện công, mỗi môn phái đều có cái hay riêng, không chỉ có khác biệt cực lớn giữa các môn phái khí công mà ngay trong cùng một môn phái cũng mỗi người mỗi vẻ riêng. Đây là sự khắc hoạ về sự phong phú và lịch sử lâu dài của Khí công Trung Hoa.

Nội kình nhất chỉ thiền là thuật luyện công riêng của chùa Thiếu Lâm ở Phúc Kiến Trung Quốc. Công pháp này được sàng lọc bổ sung trải qua mười mấy triều đại trong hàng trăm năm qua đã trở thành công pháp thượng thặng được giới Võ thuật và nay là giới Y học suy tôn. Công pháp này không giống Thiếu Lâm  động công, cũng khác với Thiếu Lâm tĩnh công, mà là một công pháp độc đáo bao gồm các công pháp động công, tĩnh công, ” cạnh kỹ ”,” kỹ kích ”, v.v….Công pháp ” Nội kình nhất chỉ thiền ” hết sức phong phú đa dạng, phương pháp huấn luyện cũng đặc biệt kỳ lạ. Mạc dù trong huấn luyện không nhấn mạnh việc nhập tĩnh thủ ý nhưng đòi hỏi hết sức nghiêm ngặt về sự chính xác của tư thế, thứ tự trước sau của từng động tác. Công pháp này có thể khôi thông kinh lạc, điều chỉnh khí huyết trong cơ thể con người, khiến cho âm dương cân bằng, tạng phủ điều hoà, nhờ đó dẫn đến tác dụng phòng và trị bệnh, tăng cường sức khoẻ, kéo dài tuổi thọ và đặc biệt với Võ thuật khiến cho Ý, Khí, Thần, Lực cùng hợp nhất. Kiên trì rèn luyện công pháp này trình độ công phu sẽ theo thời gian ngày càng thâm hậu, không những có thể ” ngoại khí nội thu ”, tích luỹ ” nội kình ”, mà còn có thể ” nội khí ngoại phóng ” để đạo dẫn chữa bệnh. Công phu ” nội khí ngoại phóng ” của công pháp này có hiệu quả tốt với các chấn thương về xương, thần kinh, nội khoa, v.v….cùng các bệnh nan y khác. Tay của người luyện công có thể thay kim châm mà tác động vào huyệt như khoa Châm cứu, phát công chữa bệnh , thiết nghĩ đây mà một báu vật không chỉ dành riêng cho giới Võ thuật mà còn cho cả giới Y học nữa.

  Nguyên tắc luyện công : ” mọc rễ trong đất, tăng kình trong thân, luyện khí nơi phủ tạng, và tiếp thu dinh dưỡng của trời đất. ”

” Nội kình ” trong ” nội kình nhất chỉ thiền ” là năng lượng hoạt động trong cơ thể , là cơ sở vật chất trong hoạt động sinh mạng, là tiền lực ẩn náu trong cơ thể cơ người. 10 đầu ngón tay ngón chân là nới bắt đầu và kết thúc của 12 đường kinh trong cơ thể, sự ban động của ngón tay và án động của ngón chân không những có thể tích luỹ ” nội kình ”, điều tiết giải phóng ” nội khí ”, mà còn có thể đơn giản hoá công pháp, rút ngắn thời gian luyện công, khiến việc luyện công có kết quả gấp nhiều lần trong cùng một thời gian.

” Thiếu Lâm nội kình nhất chỉ thiền ” do cụ Khuyết A Thuỷ truyền dậy đầu tiên  ra khỏi phạm vi chùa Thiếu Lâm, năm 7 tuổi ông học võ với sư Đỗ Thuận Bưu tại chùa Thiếu Lâm  Phúc Kiến và đạt đến chân công tuyệt kỹ của công pháp ” Nội kình nhất chỉ thiền ”, trước đó giới luật nhà chùa nghiêm ngặt  công pháp chỉ được truyền miệng từ thầy sang trò không truyền ra ngoài, do đó có rất ít người biết công pháp này, sau giải phóng cụ Khuyết A Thuỷ là người đầu tiên mang Quốc báu đã chôn vùi mấy trăm năm truyền dạy ra ngoài. Công pháp này dã được nghiêm cứu tại Phòng nghiên cứu Khí công việm Trung Y Thượng Hải, năm 1980 ” Trung Quốc bách khoa niêm giám ” có ghi chéo những thành tựu thực nghiệm về ” khí ” trong Khí công ” Nội kình nhất chỉ thiền ”, Khí công đã được đưa vào các sách khoa học kỹ thuật.

” Nội kình trạm trang công ” là công pháp sơ cấp của ” Nội kình nhất chỉ thiền ”, kết hợp giữa môn ” Nội kình nhất chỉ thiền ” với võ thuật nội gia quyền qua thực tiền công pháp đã được nâng cao hình thành động tĩnh hỗ trợ nhau, không cần thủ ý, lấy lực dẫn khí, cảm giác đắc khí mau và đầy, không có những biến cố sai lệch.

Mã bộ trạm trang công là công pháp cơ sở của công pháp này tức là nền tảng cơ bản cho toàn bộ công pháp.

Học thuyết kinh lạc của y học Trung Quốc cho rằng kinh lạc là con đường vận hành khí huyết trong cơ thể. Kinh lạc như mạng lưới gắn bó chặt chẽ với nhau, trải khắp cơ thể, trong thông với tạng phủ ngoài dẫn tới tứ chi xương khớp, khơi thông từ trong ra ngoài tạo nên một hệ thống chức năng hoàn chỉnh, độc đáo khiến cho trong và ngoài, trên và dưới của cơ thể thống nhất hài hoà. Mã bộ trạm trang công là qua sự điều chỉnh và duy trì tư thế đặc biết sẽ tăng gia tốc vận hành của kinh khí, khiến kinh lạc toàn thân được thông suốt, khí huyết điều hoà, âm dương cân bằng.

Tư thế chuẩn bị : Đứng thẳng thả lỏng, hai chân rộng bằng vai, hai mũi chân thu vào nhau ( khoảng 13 độ ) thành hình chéo vào trong, hai cánh tay buông thõng tự nhiên lòng bàn tay hướng vào trong thân ngay ngắn mắt nhìn thẳng ( hình 20 ).

Khởi thế : Lòng bàn tay hướng vào nhau, hai cánh tay  đưa ra phía sau rồi từ từ đưa ra phía trước và đưa lên ngang vai ( hình 21 ), lật lòng bàn tay lên trên, cong khuỷu tay, vòng bàn tay về phía eo lưng cạnh sườn, lại vẽ cong đưa ra phía trước ( hình 22 ). Trở xoay lòng bàn tay xuống dưới, cánh tay hơi co vào đồng thời cong đầu gối xuống thành  ” mã bộ trạm trang ” ( hình 23 )

Yếu lĩnh trạm trang :

1. Hai bàn chân đứng rộng ngang với hai vai

2. Hai mũi chân châu vào nhau với góc 13độ

3. Mươid ngón chân bám chặt đất, nhưng không được quá dùng lực

4. Đầu gối cong, xuống tấn nhưng đầu gối không được nhô ra quá mũi bàn chân

5. Bụng thót, hậu môn co lên

6. Hai  đùi và háng thành hình tròn, lưng háng thả lỏng

7. Thu ngực nâng lưng

8. Cổ vươn thẳng nhưng không gồng cứng

9. Đầu lưỡi sát vòm trên

10. Mắt nhìn ngang tầm

11. Đầu mũi và rốn tạo thành một tuyến thẳng

12. Huyệt bách hội và huyệt hội âm tạo thành một tuyến thẳng đứng

13. Nách hư ( buông lỏng không có cảm giác đầy chặt mà thấy như rỗng )

14.Hai vai trĩu xuống, khuỷu tay trĩu xuống

15. Hai cẳng tay song song với mặt đất

16. Ngón tay giữa với cẳng tay tạo thành một tuyến thẳng

18. Bàn tay khum như  đang ôm một ống tre

19. Ngón tay xếp như hình bậc thang, ngón tay cái với ngón trỏ thành hình mỏ vịt

20. Thượng hư hạ thực ( trên thấy rỗng nhẹ – dưới nặng trầm ), nét mặt tươi, thở tự nhiên.

Khi trạm trang công không đựơc nhập tĩnh, không được thủ ý, không được  đem khái niệm của công pháp khác nhập vào công pháp này, nhưng chú trọng đặc biệt về sự chuẩn xác của tư thế. Trạm trang công không nên dưới 30 phút ( với người mới tập thì làm từ ít đến nhiều ), Đều đặn sau khoảng 1 tuần sẽ vượt qua giai đoạn mệt mỏi, nghĩa là không còn thấy mệt hay mỏi cơ bắp khi đứng lâu nữa, lúc đó thời gian trạm trang sẽ là khoảng thời gian vô cùng thú vị và dần lãnh hội được thành tựu của công pháp.

* Công lý : Từ động tác khởi thế tức là sau khi đưa cánh tay lên ngang vai, hai lòng bàn tay hướng vào nhau, bắt đầu cong đầu gối, thì khí của Tam âm kinh và Tam dương kinh của tay chân bắt đầu tăng gia tốc vận hành nhanh dần. Mạch Đới bắt  đầu ở hai sườn vòng quanh thân như dây cuốn vòng xuống bụng dưới, phía lưng Mạch Đới thắt tạng Thận và thông trực tiếp  với Túc tam dương kinh cùng mách Xung, Nhân, Đốc. Cho nên khi trở bàn tay lên trên kéo khuỷu tay co vào, ngón tay tiếp xúc với Mạch Đới, thông qua sự khởi động Đới mạch sẽ dẫn đến gia tốc sự vận hành hai mạch Nhâm Đốc và cả kinh khí của kinh lạc ở phía trên, dưới toàn thân. Hai chân đứng chếch mũi vào trong sẽ khiến cho kinh khí từ dưới đẩy lên trên Mạch Đốc một cách mạnh mẽ và sẽ nới thông một cách từ nhiên với Mạch Nhâm ở phía trước. Như vậy không nhưng tăng cường sự vận hành của kinh Túc tam âm và Túc tam dương ( 3 kinh âm, 3 kinh dương ở chân ), đồng thời còn thúc đẩy sự vận hành của khí Thủ tam âm Thủ tam dương ( 3 kinh âm, 3 kinh dương ở tay ) khi cánh tay quay một vòng khí huyết trên vai trào lên mạnh mẽ, một khi thả lỏng 2 vai , hai tay đưa ra phía trước, khí huyêt sẽ theo 2 cánh tay trào lên mạnh hơn, bàn tay ngón tay tiếp đó sẽ có khí cảm một cách rõ rệt. Qua đó cho thấy, thông qua động tác, tư thế chính xác có thể khơi thông một cách cơ bản các kinh lạc trong toàn thân.

Ban chỉ pháp

Ban chỉ các ngón tay ngón chân là một công pháp đặc sắc mà không có ở các môn phái khác của Khí công , là công pháp đặc sắc cũng là Then chốt nhất của ” Nội kình nhất chỉ thiền ”.

Trong luyện công, đứng mã bộ trạm trang công từ 10 đến 20 phút thì bắt đầu ban động ngón tay một cách có quy luật mà theo thứ tự trước sau, lúc đó sẽ cảm thấy ấm nóng trong người, ” khí cảm ” trên tay theo đó tăng dần lên. Những người kiên trì luyện công  ít nhất 10 ngày, lâu hơn là hai tháng, theo sự ban động cảu ngón tay ngón chân, thân thể sẽ hơi nghiêng ngửa, thậm trí có cảm giác trấn động mạnh mẽ và có cảm giác có một dòng hơi ấm từ mạch Đốc sau lưng vận chuyển lên rồi nối xuống mạch nhân phía trước chuyển xuống, chu chuyển tuần hoàn làm cho Nhân Đốc đước lưu thông. Y học cho rằng bát mạch kỳ kinh ( Nhâm, Đốc, Xung, Đới, Âm kiểu, Dương kiểu, Âm duy, Dương duy ) trong người thường bị phong bế không thông, chỉ có người luyện công mới có thể khơi thông chúng. Nói chung người tập tĩnh công, các pháp môn khác kiên trì tối thiểu 3 tháng không thì nửa năm mới thông được Tiểu Châu Thiên ( Nhâm – Đốc ), Còn với công pháp này chỉ trong một thời gian ngắn có thể đạt được điều đó, người nhanh thì 10 ngày, lâu thì 2 tháng. chứng tỏ ban chỉ là một công pháp then chốt.

Tại sao ” ban chỉ pháp ” có tác dụng lớn như vậy ?

1. Trong quá trình phát triển của loài người, con người lao động bằng cả chân tay và đầu óc, trên thực tế sự phát triển, tiến hoá của các cử động ngón tay và tiến hoá của bộ não đã thôi thúc lẫn nhau hình thành mối liên hệ mật thiết giữa các ngón tay và bộ não. Mà não và các vận động của khí có một sự thống nhất ( Ý – Khí ) đưa tới các công năng Khí công. Có câu ” Thập chỉ liên tâm ” hay ” Tâm linh thủ xảo ” nói lên mối liên hệ nhất quán của ngón tay với não ( hay nói cách khác là Khí ).Khí banđộng ngón tay thì cũng cố hết sức bấm ngón chân tương ứng.

2. Sự ấn xuống và nâng lên của ngón tay, ngón chân có thể làm thay đối quy luật thông thường của đường vận hành  khí trong các kinh mạch có liên quan, cho nên chúng ta áp ngón ta, ngón chân một cách có quy luật sẽ có thể điều chỉnh trực tiếp về lưu lượng và vận tốc, nhờ đó thúc đẩy sự vận hành của khí huyết, khơi thông kinh lạc, kích phát và tích luyện ” nội kình ” ( tiềm năng trong cơ thể con người ) dẫn đến tác dụng tăng nhanh tiến trình luyện công để đạt đến hiệu quả làm một mà có hiểu quả gấp đôi.

3. Kinh lạc với tạng phủ có liên hệ mật thiết với nhau, đồng thời do ” Huyết vi khí cho mẫu – Khí vi huyết chi soái ” ( Huyết là mẹ của Khí – Khí là tướng soái của Huyết ) cho nên lưu lượng và lưu chuyên của sự vận hành  Khí – Huyết sẽ nảy sinh sự thay đổi do ban áp một cách có quy luật. Do đó, thông qua sự ban chỉ có mục tiêu sẽ làm cho tạng phủ đầy đủ khí huyết, làm cho các tổ chức bị nhiễm bệnh nhờ  đó mà lui bệnh phục hồi, âm dương đước cân bằng.

4. Huyệt Lao cung và Dũng tuyền ( ngoài ra còn có Bách hội ) là 2 trong 3đường thông ví như cửa sổ chủ yếu của sự trao đổi khí giữa cơ thể con người với thiên địa  âm dương, do vậy khi chúng ta ban áp bất cứ ngón tay ngón chân nào đều có ảnh hưởng trực tiếp đến sựđóng mở của huyệt  Lao cung và Dũng tuyền, và sựđóng mở có thể tác động mạnh thêm một bước trong quá trình nạp khí và phòng khí.

5. Trời đất là một trường năng lượng lớn, cơ thể con người là một truờng năng lượng nhỏ, chân tay lại là một trường nhỏ hơn của cơ thể, qua sự huấn luyện đặc biệt của chúng ta bằng cách ban áp chỉ – cả ngón tay và ngón chân, do cắt mạch trực tiếp và cắt đi cắt lại, khiến trường năng lượng của cơ thể dần dần đi vào nề nếp và được tăng cường. Thực tế cho qua tổng kết cho thấy rằng những người kiên trì luyện công pháp này sau nửa năm  có thể đạt đến trình độ ” nội khí ngoại phóng ” như một khí công sư – lúc này người luyện có thể chữa bệnh cho người khác – Cách vận dụng bàn tay, ngón tay, cách vận khí chữa bệnh xin nói sau.

Khí công ” Thiếu Lâm nội kình nhất chỉ thiền ” là một công pháp theo kiểu ” phát phóng ngoại khí. ” Nhất chỉ thiền ” có một hệ thống công pháp hoàn chỉnh :  luyện khí, dưỡng khí, nạp khí, tụ khí, phóng khí, còn ” Ban pháp ” chính là một thủ pháp nhằm thực hiện những mục tiêu đó. Qua ban chỉ chúng ta có thể kích thích sự vận hành kinh khí, trừ bệnh, tăng sức khoẻ, tích luyện nội kình, nâng cao công lực ( đặc biệt quan trọng với võ thuật ), qua ban chỉ có thể điều tiết khống chế lưu lượng ” Nội khí ngoại phóng ” . Người được tập luyện về ban chỉ pháp khi vận dụng ” nội khí ngoại phóng ” để chữa bệnh cho người khác không cần động tác chuẩn bị, lúc nào phát công cũng được, có thể khống chế tuỳ ý lưu lượng lớn nhỏ của khí ở các kinh lạc , thậm chí có thể căn cứ vào tình trạng bệnh tình, nguyên nhân gây bệnh của người bệnh mà tuỳ ý điều động khí ở các kinh khác nhau, ở các tạng phủ tương ứng. Ở giai đoạn của công pháp cao cấp ” ý đến khí đến, khí đến kình đến, đac đến thì không nơi nào không đến” , đạt đến mức độ dung hoà, tương thông, giữa tinh khí của trời đất với tinh, khí, thần, kình trong cơ thể. Như vậy có thể huy động chân nguyên vô tận của trời đất phục vụ cho việc chữa bệnh nâng cao công lực

Giải mã gene người Việt cổ

Posted on Updated on

Nhà văn Nga V. Rasputin đã viết “Không làng quê, chúng ta sẽ mồ côi”. Vì thế những câu hỏi: Tôi là ai? Tôi từ đâu tới? luôn đau đáu trong tâm thức mỗi người dân Việt.

Những năm gần các nghiên cứu về Việt tộc và Hán tộc của các nghà nghiên cứu trên thế giới đem lại những kết quả bất ngờ.
Các nhà khoa học của Viện Pháp Á gồm bác sĩ Trần Đại Sỹ, GS Tarentino (người Ý) và GS sinh vật học Varcilla Pascale (người Pháp) đã khảo sát y phục, mồ mả, răng xương trong các ngôi mộ cổ qua các thời đại cho đến hết thế kỷ thứ nhất. Sau đó kiểm những bộ xương, đồng thời kiểm máu của 35 dòng họ tại Hoa Nam và Việt Nam rồi so sánh với những dòng họ khác tại Hoa Bắc đã kết luận: Cư dân Hoa Nam, từ miền Nam Trường Giang xuống tới miền Trung VN, Lào, Thái đều có cùng một huyết thống, một chủng tộc và hoàn toàn khác biệt với cư dân Hán ở Hoa Bắc. Kết quả của những công trình khoa học có ý nghĩa lịch sử đã xác định vùng Đông Nam Á trải dài từ lưu vực song Dương Tử xuống tới lưu vực sông Hồng, sông Cửu Long mà đồng bằng châu thổ sông Hồng là trung tâm nơi phát tích của nền văn minh Hòa Bình của cư dân Malaysian.

Vua Hùng Vương.

Phát hiện đảo lộn. Năm 1998, GS  J.Y. Chu và 13 đồng nghiệp ở ĐH Texas đã phân tích 15-30 mẫu “Vi vệ tinh” DNA (microsatelltes) để thử nghiệm sự khác biệt di truyền trong 24 nhóm dân từ nhiều tỉnh khác nhau ở Trung Quốc, 4 nhóm dân vùng Đông Nam Á gồm 2 nhóm thổ dân châu Mỹ, một nhóm thổ dân châu Úc và một thuộc thổ dân Newn Guinea, 4 nhóm dân da trắng Caucasian và 3 nhóm dân Phi Châu.

Công trình nghiên cứu Ða dạng di truyền người Hán (Chinese Human Genome Diversity Project ) do giáo sư Y. Chu chủ trì, được công bố đã đảo lộn nhận thức của giới khoa học về nguồn gốc của người Ðông Á. Qua đó, có thể khẳng định: Hai nhóm dân có sự khác biệt rõ ràng nhất là Phi Châu và các dân khác không thuộc Phi Châu. Tổ tiên của các nhóm dân Đông Á ngày nay có nguồn gốc từ Đông Nam Á. Người Trung Quốc ở phía Bắc TQ có cấu trúc di truyền khác với người Trung Quốc ở phía Nam Trung Quốc.
Đặc biệt, các công trình nghiên cứu mới nhất của các nhà nhân chủng về cội nguồn phát tích của cư dân vùng Đông Nam Á đã làm sáng tỏ một sự thật là tất cả cư dân Đông Nam Á đều có chung một cội nguồn chủng tộc.
Giáo sư Douglas C. Wallace (ĐH Emory, Atlanta và Georgia) đã phát hiện một đột biến di truyền đặc biệt cho lục địa châu Á. Đó là sự thất thoát cặp căn bản số 9 giữa 2 thể di truyền COII và tRNA.LYS.
Dân tộc cổ xưa nhất. Nhà nhân chủng học Tréjaut nghiên cứu về thổ dân Đài Loan, dân Đông Nam Á và dân Đa Đảo đã công bố: Thổ dân Đài Loan đã định cư trên 15.000 năm và cũng trải qua 3 lần đột biến đặc biệt như dân Mã Lai.  Dân Trung Hoa lục địa không có 3 lần đột biến này. Yếu tố mtDNA B có ở vùng Đông và Đông Nam Eurasia, thổ dân châu Mỹ và dân Đa đảo.
Nhà nhân chủng Melton và Redd tìm thấy cư dân Đa Đảo có một tỷ lệ cao về sự thất thoát của cặp căn bản số 9 ở hai thể di truyền COII/ TRNALYS.
GS.Christian Pelzes chuyên nghiên cứu về Đông Nam Á học ở ĐH Hawaii đã nhận định rằng trong các tiểu bang và các nền văn hóa của xã hội đa văn hóa Hoa Kỳ thì quần đảo Hawaii có quan hệ thân thuộc nhất với VN. Nhà nghiên cứu Bob Krauss đã so sánh Hawaii với Việt Nam trên các phương diện địa lý và dân tộc đã tìm ra rất nhiều điểm tương đồng và các chứng liệu cổ sử học, nhân chủng học, ngôn ngữ tỷ hiệu và nhất là Mitochondrial DNA Haloptype B cũng như sự thất thoát của các cặp cơ bản số 9 giữa hai thể di truyền COII TRNALYS chứng minh dân Đa đảo (Polynesian) là hậu duệ của dân Bách Việt.
Dựa trên những công trình nghiên cứu khoa học thuyết phục, tạp chí Science Progress đã công bố kết qủa xác định thổ dân Đông Nam Á, thổ dân Đa Đảo (Polynesian)và thổ dân châu Mỹ có cùng một ngọn nguồn phát tích, cùng chung một nền văn hoá Lapita (1.500-800T CN) với đồ gốm thẩm mỹ độc đáo. Hiện ở Trung tâm văn hoá Đa Đảo ở Hawai còn trưng bày một mẫu thuyền độc mộc đục khoét bọng cây làm thuyền di chuyển, khi ra biển thì ghép 2 thuyền độc mộc lại tạo thế thăng bằng trên mặt biển.

Chim Hồng, chim Lạc.

Tháng 3.2007, Hàn Lâm viện Khoa học Quốc gia Mỹ đã công bố công trình của các nhà nhân chủng thuộc đại học Durham và Oxford Anh Quốc nghiên cứu mtDNA của heo và dạng răng heo trên toàn vùng Đông Nam Á lục địa và hải đảo đã đi tới kết luận: “Nghiên cứu mới về DNA của heo đã viết lại lịch sử di dân khắp vùng Thái Bình Dương và người Việt cổ (Bách Việt) là cư dân đầu tiên định cư trên các hải đảo Đông Nam Á rồi tới New Guinea, Hawai và Polynesia. Họ mang theo kỹ thuật làm thuyền độc mộc. Nghiên cứu mới về DNA đã viết lại lịch sử di dân khắp vùng Thái Bình Dương – hầu hết cư dân trong vùng có nguồn gốc từ VN.

Nhà nhân chủng Ballinger và đồng nghiệp đã nghiên cứu mtDNA của 7 dân tộc Đông Nam Á đã kết luận thuộc chủng Mongoloid phương Nam mà VN là trung tâm của mtDNA từ đó lan toả ra khắp vùng Thái Bình Dương”.

Người Việt có tỷ lệ cao nhất về biến đổi di truyền; có đủ 4 Haplotype chính gồm A, B, C, D và không có cặp căn bản số 9 giữa 2 thể di truyền COII/ tRNA.LYS mà các nhà di truyền học gọi là “Đột biến đặc biệt Á châu” nên được xem là dân tộc cổ nhất Đông Nam Á.

                                                     TS Nguyễn Văn Vịnh

Dứa dại chữa viêm gan, xơ gan cổ trướng

Posted on Updated on

Cũng như các cây cỏ khác, dứa dại còn gọi là dứa gỗ, dứa gai… tên khoa học là Pandanus odoratissium L.F. thuộc họ Dứa dại Pandaceae. Là loại cây mọc hoang ở nhiều vùng trong nước ta, trên các bãi cát ẩm, dọc ven bờ suối, bờ sông ngòi.

Đông y dùng dứa dại làm thuốc từ lâu đời từ những lá hay rễ dứa hoặc quả dứa, hạt quả. Song ngọn đọt non của cây dứa dại người ta dùng làm rau ăn, ngay cả gốc trắng mềm của lá dứa dại cũng làm rau ăn. Để làm thuốc dứa dại cũng được thu hái quanh năm, rửa sạch, thái lát phơi hay sấy khô cất đế dùng dần.

Theo đông y lá dứa dại có vị đắng cay, thơm với công năng sát khuẩn, hạ nhiệt làm long đờm, lợi niệu. Rễ dứa dại được sử dụng làm thuốc nhiều hơn, có vị ngọt nhạt, tính mát, công hiệu lương huyết, lợi tiểu, tiêu độc, trừ đàm, phát hãn (ra mồ hôi), nên dùng trị cảm mạo, phát sốt, viêm thận, thủy thũng, viêm đường tiết niệu, viêm gan, xơ gan cổ trướng, viêm kết mạc mắt. Ngoài ra còn dùng quả dứa dại trị lỵ, ho, hạt quả trị viêm tinh hoàn hay trĩ…

Liều sử dụng trung bình: Cho lá dứa dại cho dạng thuốc sắc từ 15 – 30 g/ngày. Rễ dứa dại khô ngày dùng 15 – 30g cho dạng sắc (có thể sử dụng độc vị hoặc phối hợp với các vị thuốc khác). Quả hay hạt dùng 30 – 60g, sắc uống mỗi ngày.

Để tham khảo và áp dụng xin giới thiệu những phương thuốc trị bệnh chứng từ cây dứa dại.

* Chữa đau đầu mất ngủ: Rễ dứa dại 20 – 30g, sao thơm, sắc lấy nước, chia 2 lần uống trong ngày.

* Chữa tiểu buốt, đái ít: Rễ dứa 20 – 30g, rễ dứa gai (trái thơm) 20 – 30g, sắc lấy nước chia 2 lần uống trong ngày.

* Chữa sỏi thận, tiết niệu: Rễ dứa dai hoặc dứa quả dại 12 – 20g, hạt quả chuối hột 10 – 12g, rễ cỏ tranh 10 – 12g, bông mã đề 8 – 10g, kim tiền thảo (lá đồng tiền hay gọi lá mắt trâu) 15 – 20g, rễ cây lau 10 – 12g, củ cỏ ống 10 – 12g, sắc lấy nước uống làm 2 – 3 lần trong ngày vào trước bữa ăn, mỗi lần khoảng 100 – 150 ml.

* Trị viêm thận phù thũng: Rễ dứa dại 30 – 60g, thịt lợn nạc 150 – 200g, nấu thành canh ăn ngày một lần, một tuần cần ăn 3 – 4 lần. Kết hợp hằng ngày dùng rau dừa nước khô (Du long thái) 30 – 60g, rau má 12 – 16g, Bông mã đề 10 – 12g, Bồ công anh 12 – 16g, sắc với nước uống vào trước bữa ăn ngày 2 lần, mỗi lần 150 ml.

* Trị viêm gan, xơ gan cổ trướng: Rễ dứa dại hoặc quả dứa dại 20 – 30g, lá quao nước 20 – 30g, lá cây ô rô 12 – 20g, sắc lấy nước thuốc uống ngày 2 lần, mỗi lần chừng 150 ml vào trước bữa ăn.

* Chữa chứng viêm tinh hoàn: Lấy hạt quả dứa dại 30 – 60g, lá tử tô 30g, lá quất hồng bì 30g, nấu kỹ lấy nước để còn ấm rửa hằng ngày.

* Ăn uống kém sau sinh: Rễ dứa dại 15 – 20g, vỏ cây chòi mòi (Antidesma ghaesembilla Gaertn, thuộc họ thầu dầu Euphorbiaceae) 7 miếng cỡ 4×6 cm, sắc lấy nước uống ngày 2 lần vào trước bữa ăn, mỗi lần khoảng 100 ml.

Bí ẩn về thuật khinh công

Posted on Updated on

Hiện tượng “ban ngày sáng tỏ người kia bay lên” (Bạch nhât phi thăng) đã được ghi chép trong nhiều sách tu luyện của Trung Quốc cổ đại. Một người ở Ấn Độ có khả năng bay lơ lửng trên không. Người ta cũng đã nhìn thấy những người tu luyện trong núi bay lơ lửng trên không. Bản thân tôi đã trực tiếp kinh nghiệm được sự bay lên trong hai lần. Làm thế nào mà một người có thể bay lơ lửng trên không? Sự thật là một người tu luyện sẽ có thể bay lên một khi mà “Đại Chu Thiên” của người ấy được khai mở hoàn toàn. Nó đơn giản chỉ có vậy thôi. Tại sao việc khai mở hoàn toàn “Đại Chu Thiên” lại khiến một người bay lên? Nó liên quan đến cấu trúc của thân thể người, các kinh mạch, và những thân thể khác của con người trong các chiều không gian khác.

Thân thể này của con người có một thân thể đối ứng trong mỗi không gian trong số nhiều chiều không gian. Tất cả các thân thể này đều được kết nối với nhau theo một cách nhất định. Cá nhân tôi nghĩ rằng các huyệt đạo là nơi mà tất cả các thân thể này được kết nối lại với nhau. Liệu pháp châm cứu Trung Hoa đã chứng minh rằng việc dùng một cây kim để kích thích những huyệt vị nào đó có thể chữa được bệnh. Nó hoạt động như thế nào? Có những huyệt vị đối ứng nhau trong mỗi thân thể của con người. Nguyên nhân thực sự của căn bệnh nằm ở một hoặc các thân thể ở chiều không gian khác. Những triệu chứng chỉ đơn giản là được phản ánh trên thân thể của chúng ta ở không gian này. Phương pháp châm cứu được dùng để chữa bệnh cho thân thể ở các không gian khác. Khi đó, những biểu hiện của bệnh tật trên thân thể ở không gian này sẽ biến mất. Đây là điều mà khoa học hiện đại không thể giải thích nổi.

Theo quan điểm của tôi, các thân thể của con người trong tất cả các chiều không gian đều có những đường kinh mạch. Những đường kinh mạch này là cửa ngõ kết nối tất cả các thân thể lại với nhau. Đối với một người không tu luyện, kinh mạch của  người ấy bị tắc nghẽn, và do đó các thân thể ở các không gian khác không được kết nối với nhau. Khi “Đại Chu Thiên” của chúng ta khai mở, các thân thể ở không gian này trở nên được liên kết với các thân thể ở những chiều không gian khác thông qua các đường kinh mạch. Khi tất cả các kinh mạch đều được khai thông, sự chuyển động của “Đại Chu Thiên” cấu tạo nên một dòng năng lượng mạnh mẽ. Dòng năng lượng này được tạo thành bởi những lạp tử cao năng lượng gom chọn từ các không gian khác. Khi dòng năng lượng này luân chuyển, những vật chất bên trong cơ thể người có thể thay đổi vị trí cùng với nó. Những lạp tử được gom chọn từ các chiều không gian khác có thể thay thế những lạp tử bên trong cơ thể chúng ta ở không gian này, vốn mang rất ít năng lượng. Một khi mà vật chất cao năng lượng đã thay thế vật chất có năng lượng thấp, cấu tạo vật lý của thân thể người được thay đổi từ tầng thứ căn bản.

Tất nhiên, có sự khác nhau tại các tầng thứ khác nhau. Tại một tầng thấp, dòng năng lượng của “Đại Chu Thiên” được cấu thành bởi các lạp tử trong chiều không gian năng lượng thấp. Thân thể người ở không gian này chỉ có thể kết nối với những thân thể của họ ở tầng thứ thấp. Kích thước hạt lạp tử tương đối to. Khi tầng thứ của người ta tăng lên, dòng năng lượng đó được cấu thành từ những lạp tử có kích thước vi tế hơn và có mật độ cũng như năng lượng cao hơn. Những lạp tử này là từ các chiều không gian cao hơn. Do đó, thân thể ở không gian này được kết nối đến các thân thể ở những chiều không gian cao hơn.

Khi vật chất ở những không gian cao hơn thay thế vật chất ở không gian này, một người có “Đại Chu Thiên” khai mở sẽ khác biệt với một người bình thường ở phương diện là thân thể của người ấy trong không gian này được cấu thành từ vật chất khác. Tuy rằng người ấy vẫn trông giống như trước,  nhưng từ cơ bản người ấy đã khác trước rồi. Họ không còn bị kiểm soát và giới hạn bởi những đặc tính của không gian này bởi vì họ đã đồng hóa với những đặc tính ở các chiều không gian khác. Tầng thứ càng cao, thì họ càng đồng hóa với không gian cao hơn. Vì vậy người ấy cắt đứt mối liên kết với vật chất ở các không gian thấp hơn. Giờ đây, họ có thể đi qua các không gian khác, và thân thể của họ ở không gian này có thể bay lên. Đó là lý do tại sao người ta có thể “bạch nhật phi thăng.” Sự lý giải thực ra rất đơn giản.

Trên đây chỉ là sự quan sát và thể ngộ cá nhân của tôi. Kính mong sự góp ý và chỉ ra sai sót

Cho đến nay, khoa học chưa có cách nào giải thích hiện tượng khinh công vì nó đi ngược lại hoàn toàn định luật vạn vật hấp dẫn.


Ảnh: stanford.edu

Nhiều tài liệu cổ của phương Đông và phương Tây ghi chép khá tỉ mỉ về khả năng con người tự bay lên mà không cần bất kỳ sự trợ giúp nào. Tuyệt kỹ khinh công đó là sự thực hay chỉ là trò ảo thuật?

Khinh công (Levitation) là kỹ thuật tự bay trong không khí mà không cần trợ giúp, trái ngược hoàn toàn với định luật vạn vật hấp dẫn của Newton. Sách tôn giáo ghi nhận 300 vị thánh có thể tự bay lên.

Pha khinh công đầu tiên được ghi lại là do Simon Magus thực hiện vào thế kỷ 1. Ông ta là một giáo sĩ theo dòng dị giáo, tham gia tập luyện nhiều “tà thuật” như phép tàng hình, khinh công. Người thực hiện pha bay lượn trong thời gian lâu nhất là Joseph Capertino thế kỷ 17. Giáo sĩ đạo Tin Lành này đã lơ lửng trong không khí khoảng 2 tiếng đồng hồ.

Những đạo giáo khác như Hindu, Bà la môn và Phật giáo cũng ghi nhận nhiều trường hợp khinh công. Trong cuốn sách “Khoa học huyền bí ở Ấn Độ thời cổ đại”, tác giả Louis Jacollios (Pháp) đã ghi lại khá chi tiết các pha khinh công.

Nổi tiếng nhất là tu sĩ Milarepa, một nhà yoga hàng đầu ở Tây Tạng thuộc thế kỷ 19. Ông này được mệnh danh là người nắm giữ nhiều sức mạnh huyền bí đến nỗi có thể đi lại, ăn, ngủ trong khi khinh công lơ lửng giữa không khí. Không chỉ các thày tu khổ hạnh tại Ấn Độ có thể thực hiện tuyệt kỹ này, mà các môn đệ của phái Ninja ở Nhật Bản cũng có khả năng tương tự.

Một kỹ thuật thấp hơn của khinh công là khinh hành (đi bộ cực nhanh), khá phổ biến tại các khu vực có địa hình phức tạp ở Trung Hoa, Nhật Bản. Các môn đồ của khinh hành có thể đi lại rất nhanh và an toàn ở những nơi núi non hiểm trở, bằng kỹ thuật phi thân (nhảy), thần hành (chạy hàng trăm dặm mà chân không chạm đất), bích hổ du tường (thằn lằn leo tường), thủy thượng phiêu (chạy trên nước).

Những tuyệt kỹ khinh công dù thực hiện ở đâu đều có một điểm giống nhau, đó là sử dụng một kỹ thuật nào đó để giảm hoặc mất hẳn tác động của lực hút trọng trường. Nói về điều này, cần nhắc đến một khái niệm vật lý là trọng lượng biểu kiến. Nó đặc trưng cho lực nén của vật lên mặt sàn hoặc sức căng của lò xo thể hiện sức nặng của một vật nào đó. Chính trọng lượng biểu kiến tạo cảm giác về sức nặng nhẹ của cơ thể. Khi không có cảm giác về trọng lượng biểu kiến (rơi từ trên cao xuống mà không có sàn đỡ), chúng ta sẽ rơi vào trạng thái không trọng lượng.

Cho đến nay, khoa học chưa có cách nào giải thích hiện tượng khinh công (nếu như nó tồn tại) vì nó đi ngược lại hoàn toàn định luật vạn vật hấp dẫn. Người ta không thể chứng minh, ít nhất là về mặt lý thuyết, làm thế nào mà một người có thể thoát ra khỏi tác động của lực hút của trái đất trong điều kiện thông thường chỉ bằng cách hít thở, thôi miên để huy động năng lượng siêu nhiên. Những người phản bác cho rằng từ xưa đến nay, đó chỉ là trò ảo thuật đánh lừa thị giác của người xem.

Một số thử nghiệm khoa học gần đây cho thấy nhiều chiều hướng tích cực hơn. Ví dụ, các nhà khoa học Nga đã thử nghiệm trong môi trường đặc biệt (âm hơn 160 độ C), một chiếc đĩa khi quay tốc độ cao, khoảng 3.000 vòng/phút trong tác động của một điện trường thì sẽ giảm trọng lượng. Các nhà khoa học Mỹ làm thử nghiệm khác: Khi đặt chất siêu dẫn lơ lửng trong từ trường, họ phát hiện ra nếu đặt một vật thể lên trên bề mặt của chất siêu dẫn, trọng lượng của nó sẽ giảm đi 5%.

Như vậy, vẫn còn hy vọng le lói cho những người muốn tin vào những điều đặc biệt, đồng thời những kẻ lừa bịp vẫn còn đất để dụng võ. Và khinh công là khả năng đặc biệt hay chỉ là một khát vọng ảo ảnh của loài người? Đây vẫn là một bí mật.

(Theo Sức Khỏe & Đời Sống(
(Vnexress(


Nhân Trắc Học

29-06-2007, 04:14 PM

Nhiều tài liệu cổ của phương Đông và phương Tây ghi chép khá tỉ mỉ về khả năng con người tự bay lên mà không cần bất kỳ sự trợ giúp nào. Tuyệt kỹ khinh công đó là sự thực hay chỉ là trò ảo thuật?
Tuyệt kỹ của tôn giáo?
http://www.suckhoedoisong.vn/Editor/assets/So%20150/9225.JPGLevitation hay còn gọi là khinh công là kỹ thuật tự bay trong không khí (của người, động vật, đồ vật) mà không cần trợ giúp (trái ngược hoàn toàn với định luật vạn vật hấp dẫn của Newton).
Sách tôn giáo ghi nhận có tới 300 vị thánh có thể tự bay lên.
Pha khinh công đầu tiên được ghi lại là do Simon Magus thực hiện vào thế kỷ thứ I. Ông ta là một giáo sĩ theo dòng dị giáo, tham gia tập luyện nhiều tà thuật như phép tàng hình, khinh công. Người thực hiện pha bay lượn trong thời gian lâu nhất là Joseph Capertino (1603-1663), giáo sĩ đạo Tin Lành này đã lơ lửng trong không khí khoảng 2 tiếng đồng hồ.
Những đạo giáo khác như Hindu, Bà la môn và Phật giáo cũng ghi nhận nhiều trường hợp khinh công. Trong cuốn sách “Khoa học huyền bí ở Ấn Độ thời cổ đại”, tác giả Louis Jacollios (Pháp) đã ghi lại khá chi tiết các pha khinh công.
Nổi tiếng nhất là tu sĩ Milarepa, một nhà yoga hàng đầu ở Tây Tạng thuộc thế kỷ 19. Ông này được mệnh danh là người nắm giữ nhiều sức mạnh huyền bí đến nỗi có thể đi lại, ăn, ngủ trong khi khinh công lơ lửng giữa không khí. Không chỉ những thầy tu khổ hạnh tại Ấn Độ có thể thực hiện tuyệt kỹ này, mà các môn đệ của phái Ninja ở Nhật Bản cũng có khả năng tương tự.
Một kỹ thuật thấp hơn của khinh công là khinh hành (đi bộ cực nhanh) khá phổ biến tại các khu vực có địa hình phức tạp ở Trung Hoa, Nhật Bản. Các môn đồ của khinh hành có thể đi lại rất nhanh và an toàn ở những nơi núi non hiểm trở. Các kỹ thuật đó được mô tả như phi thân (nhảy), thần hành (chạy hàng trăm dặm mà chân không chạm đất), bích hổ du tường (thằn lằn leo tường), thủy thượng phiêu (chạy trên nước).
Ảo thuật hay siêu nhiên?
Những tuyệt kỹ khinh công dù thực hiện ở đâu đều có một điểm giống nhau đó là dựa vào nguyên tắc sử dụng một kỹ thuật nào đó để giảm hoặc mất hẳn tác động của lực hút trọng trường. Nói về điều này cần nhắc đến khái niệm vật lý là trọng lượng biểu kiến. Nó đặc trưng cho lực nén của vật lên mặt sàn hoặc sức căng của lò xo thể hiện sức nặng của một vật nào đó. Chính trọng lượng biểu kiến tạo cảm giác về sức nặng nhẹ của cơ thể. Khi không có cảm giác về trọng lượng biểu kiến (rơi từ trên cao xuống mà không có sàn đỡ), chúng ta sẽ rơi vào trạng thái không trọng lượng.
Cho đến nay, khoa học chưa có cách nào giải thích hiện tượng khinh công (nếu như nó tồn tại) vì nó đi ngược lại hoàn toàn định luật Vạn vật hấp dẫn. Người ta không thể chứng minh (ít nhất là về mặt lý thuyết) làm thế nào mà một người có thể thoát ra khỏi tác động của lực hút của trái đất (trong điều kiện thông thường) chỉ bằng cách hít thở, thôi miên để huy động năng lượng siêu nhiên.
Những người phản bác cho rằng từ xưa đến nay, đó chỉ là trò ảo thuật đánh lừa thị giác của người xem.
Một số thử nghiệm khoa học gần đây cho thấy nhiều chiều hướng tích cực hơn. Ví dụ, các nhà khoa học Nga đã thử nghiệm trong môi trường đặc biệt (âm hơn 160oC), một chiếc đĩa khi quay tốc độ cao (khoảng 3.000 vòng/phút) khi có một điện trường tác dụng sẽ giảm trọng lượng. Hoặc như “hiệu ứng Meisener” của các nhà khoa học Mỹ. Khi đặt một chất siêu dẫn lơ lửng trong một từ trường, họ phát hiện ra nếu đặt một vật thể lên trên bề mặt của chất siêu dẫn, trọng lượng của nó sẽ giảm đi 5%.
Như vậy, vẫn còn hy vọng le lói cho những người muốn tin vào những điều đặc biệt, đồng thời những kẻ lừa bịp vẫn còn đất để dụng võ. Khinh công, khả năng đặc biệt hay chỉ là một khát vọng ảo ảnh của loài người vẫn là một bí mật.
( SKDS)


số phận

26-09-2007, 11:47 PM

Chào bạn,

Cách nay hơn 1 năm khi coi trên VTV3 một huấn luyện viên võ thuật ở Cao lảnh ? tôi không nhớ rỏ . Vị nầy biểu diển đứng trên một khung giấy mòng gác ngang qua 2 cái ghế trong khoảng 5 phút thì tớ giấy mới rách vì trọng lượng của anh công với bộ vỏ phục trên người.Rất tiếc lúc đó vì coi nửa chừng nên không biết danh tánh và địa chỉ của anh để liên lạc. Nhưng trong lúc anh biểu diển tôi thấy có 2 hiện tượng.
1) trong lúc biểu diển anh không đứng yên mà luôn khoa hai tay như đang vận khí.Tại sao với dáng người to lớn của một vỉ sư thêm vào sự khoa 2 tay mà lực quán tính sinh ra trong lúc anh múa không làm rách tờ giấy ?
2) Trong lúc anh biều diển thì tóc ,dây đai của anh vẩn rủ xuống chứ không dựng lên hay lơ lửng gì cả ,điều đó chứng tỏ rằng trọng lực vẩn không chừa anh ra vẩn tác dụng lên toàn bộ cơ thể anh và những gỉ anh khoác lên người.
Nếu ta tưởng tượng rằng dưới khung giấy, có một trái bóng vô hình đở anh sau một khỏng thởi gian trái bóng đó bị xì hơi không đở được anh nên trọng lượng của anh tác động vào khung giấy và làm rách nó .
Khi tập NLSH chúng ta ưa thử đưa 2 bàn tay lại gần nhau thì thấy như có một khối mềm ở giữa 2 bàn tay cản lại với người tập chuyên cần và lâu năm khí khối đó càng ngày càng cứng hơn .
Khi ta tập NLSH mà ngồi lưng sát tường khi nghỉ phóng NL ra toàn thân thi giữa lưng của ta và vách tường như có một tấm nệm chèn vào ,nếu lúc đó ta thử lắc nhẹ lưng vào tường thì cảm giác như bị cản lại và đẩy ra.
Tôi không hiểu cảm giác của vị huấn luyện viên đó như thế nào lúc anh biểu diển,nhưng tôi nghỉ lúc đó “khối vật chất bao quanh cơ thể anh trở nên “đậm đặc” hơn nên đủ sức đở cơ thể anh trong khoảng thời gian đó.Nếu sức anh mạnh hơn để duy trì trạng thái đó thì có lẻ anh sẻ đứng lâu hơn.
Như vậy với những người chuyên nghiệp họ có thể xữ dụng và duy trì “vùng vật chất” bao quanh thân thể thậm chí có thể phát triển vùng này lớn nhỏ theo ý mình để đở thân thể lên.Hiện tượng đó có thể gọi là kinh công.
Tôi nghỉ nếu có thể liên hệ được với anh và mời anh lên diển đàn để kể lại các hiện tượng xảy ra khi anh biểu diển có lẻ ta sẻ có một cái nhìn rỏ hơn về thuật kinh công.Còn những gì tôi nói chỉ là phỏng đoán qua kinh nghiệm bản thân mình nó có thể đúng và có thể sai.
Chào anh

15 phép (thần bí) để tìm mộ bị thất lạc

Posted on Updated on

15 phép tìm Mộ thất lạc
– Giai đoạn 1 : Bản thân có thể xuất Hồn xuất Vía ra khỏi cơ thể quay lại nhìn thấy Thánh Thai ( hình ảnh của bản thân trong tình trạng hiện tai ) khi mình đang nhắm mắt sẽ hiện rõ trong vòng hào quang trước mặt. …

1, Phép tập mở nhãn huệ ( con mắt thứ 3 ) để giao tiếp được với vong linh:
Giai đoạn 1 : Bản thân có thể xuất Hồn xuất Vía ra khỏi cơ thể quay lại nhìn thấy Thánh Thai ( hình ảnh của bản thân trong tình trạng hiện tai ) khi mình đang nhắm mắt sẽ hiện rõ trong vòng hào quang trước mặt.
Giai đoạn 2 : Nhìn thấy nhiều vong linh lạ. Thời kì này phải chú ý cẩn trọng nên nhìn thẳng, đi thẳng, tay bắt quyết miệng trì chú đẻ không bị các vong linh dụ dỗ, đe doạ…
Giai đoạn 3 : Tiếp xúc được với các vong linh nhưng không rõ nét. Thấy hình ảnh nhưng không nói chuyện được hoặc ngược lại. Nói chuyện với người này nhưng hình ảnh của người khác hoặc ngược lại. Những thông tin trong thời kì này chỉ chính xác được 30%.
Giai đoạn 4 : Tiếp cận được với vong linh theo ý muốn, nhìn rõ hình ảnh quá khứ hoặc hiện tại và nói chuyện bình thường với các vong linh, biết được ý muốn của họ.

2, Phép áp vong linh vào người bất kì để gặp gỡ và nói chuyện:

Phép này người thực hiện cần phải thành tâm và có căn duyên, có không gian trang nghiêm (để Hồn nhập về ) và phải làm theo thứ tự hướng dẫn.

3, Phép thỉnh chân linh hiện về :

Báo thông qua các điềm như : báo mộng, nóng ruột, hắt hơi, máy mắt, máy thịt; các côn trùng súc vật xuất hiện như Rùa, Rắn, Bướm, Chim… về nhà đột ngột, chim Khách kêu, chim Lợn réo, Quạ kêu, Gà mái gáy gở, cây cối trong vườn tự nhiên chết khô, đang trời quang mây tạnh có sấm sét giông gió trước nhà, gió thổi tung đèn nhang bài vị, có mùi đặc biệt khác thường xuất hiện rất nhanh rồi hết…. Khi gặp các chứng ứng các vong linh đã báo về nên dùng thêm 1 hoặc vài cách khác để kiểm chứng vong linh đang cần gì và tìm hiểu thêm các thông tin liên quan tới hài cốt, mồ mả của vong linh.

4, Phép bát sát:

Quan sát kĩ lưỡng tướng diện để biết được cung Phúc Đức ( tình trạng các ngôi mộ còn mất tích đang cần tìm ). Phép này chỉ tìm được mộ ông bà nội ngoại từ 4 đời trở xuống, mỗi phần mộ đều được đóng trên 1 cung riêng dựa theo hình dáng, màu sắc, tràng xâm phá diệt, chí điểm,…. thì biết rõ.

5, Phép xem tử vi:

Phải nghiên cứu Phép xem triết cung thật cẩn thận, kĩ lưỡng. Tìm Mộ mới, từ đó suy ra tìm Thanh Long và Bạch Hổ mới. Cung có Mộ cần tìm là chính Mộ. Đối diện là phần đất trước Mộ ( Minh Đường ). Tiền nhất cung vi Tả, hậu nhất cung vi Hữu, tam phương tứ chiếu là Long Hổ. Dựa theo hình tính các sao thì vẽ được sơ đồ chi tiết của mộ cần tìm, Phép này tìm được Mộ từ 7 đời trở xuống. Phải chú ý Thiên quan Thiên phúc mới là Mộ của cha mẹ, còn Thái dương Thái âm chỉ là tân Mộ ( Mộ mới táng ) mà thôi.

6, Phép xem Kê túc( phép xem chân gà ):

Xét theo hình dáng, màu sắc của Quản, Cái, Cun, Tả, Hữu có thể biết chính xác các thông tin về ngôi mộ đang quan tâm. Phép này rất linh ứng nhưng chỉ giới hạn từ Mộ Tam đại trở xuống ( kể cả nội ngoại ).

7,Phép xem Phù lưu diệp ( phép xem lá trầu không ):

Nếu trong hoàn cảnh đặc biệt như đang tìm mộ liệt sĩ trong rừng núi hoặc những nơi không thể có lá trầu, thì thành tâm nhắm mắt dùng tay trái ngắt 1 cành lá ngang tầm ngực của mình cũng có thể dùng được. Xét theo hình dáng, đường gân, màu sắc, tràng xâm, phá diệt, chí điểm có thể biết rõ tình trạng ngôi mộ đang cần tìm. Phép này không giới hạn huyết tộc hoặc bao nhiêu đời. Mà có thẻ tìm bất cứ ngôi mộ nào mình muốn.

8, Phép ứng dụng Địa lý Phong thuỷ:

Dùng thuật phong thuỷ để biết được hình thế, bố cục của khu đất, phát hiện chính xác những khu vực nào đang có Mộ chôn, và ước đoán có khoảng bao nhiêu Mộ. Nên kết hợp dùng khả năng tiềm ẩn nhập vai người đi chôn cất thì kết quả rất nhanh. Phép này dẽ làm, nhanh chóng, giới hạn được vị trí Mộ, đỡ mất công thăm dò khai quật.

9, Phép ứng dụng thiên nhiên và Sinh học:

Lợi dụng tia nắng mặt trời ( chiếu xiên khoai, nắng Quái ) chiếu xuống khu vực có Mộ đang tìm vuông góc với tia mắt nhìn của mính sẽ nhìn thấy rõ hình ảnh Quan tài độ sâu dưới 1,2m, hình ảnh Tiểu sành, Quách độ sâu dưới 80cm, hình ảnh của xương cốt độ sâu dưới 50cm.
Đánh giá chủng loại Thảo mộc hình dáng dày mỏng, cao thấp để đoán tình trạng của ngôi mộ và xương cốt.
Tiết Sương giáng từ 1-5h sáng chui vào trong sương mù. Quan sát thì biết được chỗ nào có Mộ và tình trạng Mộ, số lượng Mộ.
Đêm nguyệt tận ( trời tối đen không trăng sao ) dùng ống tre tươi đóng xuống khu vực cần xác định Mộ cho người thân trong dòng tộc bước qua sẽ thấy ánh sáng tia điện ( như cởi áo len mùa đông ) dưới gan bàn chân của họ. Dựa theo độ sáng và màu sắc thì biết rõ tình trạng của Mộ.

10, Phép phân kim, nhìn nếm thử:

Đào 1 hố sâu qua mạch nước chảy phân kim để biết hướng Long mạch. Quan sát nước, hoặc nếm, hoặc ngửi, kết hợp khả năng tiềm ẩn để biết được chính xác hướng nào, cách bao xa thì có Mộ, và biết được có bao nhiêu Mộ. Phép này có khả năng tìm Mộ chu vi 50m. Nếu Mộ chôn đầu dòng nước thì cách xa tới 200-300m vẫn có thể xác định được.

11, Phép ghi nhận hình ảnh:

Trước khi mất các vong linh thường có một thời gian nhất định chiếm chỗ của không gian, nên để lại hình ảnh nơi mất hoặc nơi có hài cốt rất rõ nét. Nếu dùng phương pháp này các bạn có thể nhìn thấy rõ vong linh trong trạng thái hiện tại.

12, Phép kiểm tra nhiệt độ và tín hiệu:

Nơi có hài cốt của các vong linh cần tìm khi gặp người thân thường phát ra nhiều tín hiệu đặc biệt và có nhiệt độ khác hẳn với môi trường xung quanh. Nếu các bạn dùng phép này thì sẽ biết được chính xác vong linh đang ở đâu, tình trạng xương cốt như thế nào..v..v…

13, Phép nhận biết những tín hiệu bất thường
:
Những vong linh khi mất đi mà chưa được người thân tìm nhận luôn luôn có những tín hiệu bất thường để cố ý báo cho mọi người biết. Ví dụ như địa hình, cây cỏ, sinh vật, hoa lá..v..v..nơi có hài cốt cần tìm sẽ có những dấu hiệu không bình thường. Nếu bạn dùng phép này chịu khó quan sát sẽ rất dẽ dàng nhận ra nơi nao có hai cốt mình muốn tìm.
14,Phép dùng Đũa thần & Con lắc:
Người đi tìm Mộ có thể sử dụng đũa thần và con lắc như phép đi tìm nước hoặc tài nguyên dưới đất, chỉ khác một chút là tín hiệu nhận được từ các vong linh tác động vào dụng cụ sử dụng sẽ mạnh hơn và biến hoá nhiều lần. Phải thành tâm và tập trung tư tưởng cao độ mới tiếp nhận và xử lý chính xác được.
15, Phép giám định nhanh:
Rất nhiều Phép có thể giám định được chính xác có đúng hài cốt mà mình đang cần tìm. Bạn có thể chọn cách nào phù hợp nhát với hoàn cảnh hiện tại để biết được đâu là phần mộ của người thân.
(baolavansu.com)

Đức Phật của thế kỷ chúng ta

Posted on

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có dạy rằng giáo pháp của Ngài sẽ rực rỡ an trú ở thế gian này trong một thời gian thôi, tiếp theo đó nhân loại đi vào thời tượng pháp. Tượng có nghĩa là na ná, là giống như; tượng pháp có nghĩa là giáo pháp giống như chánh pháp, nhưng không hẳn là chánh pháp. Tiếp theo thời tượng pháp, là thời mạt pháp, thời giáo pháp suy đồi và ẩn một. Khi đó, một đức Phật khác sẽ ra đời để khai mở cho nhân loại một kỷ nguyên chính pháp mới: đó là đức Phật Di Lặc…

Phật tử khi gặp những bước khó khăn và những cảnh tượng bất như ý trên con đường hành đạo, thường hay thở than “đời mạt pháp mà” với một ý thức cam chịu tiêu cực, đôi khi chán nản nữa. Đời mạt pháp có nghĩa là giai đoạn Chánh pháp đã suy vong, suy vong từ nội dung đến hình thức, suy vong từ nhận thức đến hành trì. Mạt pháp có nghĩa là giáo pháp đã đến lúc cùng mạt. Ý thức rằng giáo pháp đã đến thời cùng mạt, ai mà chẳng buồn, ai mà chẳng nản? Nhưng chúng ta không đau xót mấy vì ý thức ấy, bởi vì chúng ta còn mang một niềm hy vọng chan chứa trong tâm hồn: đó là niềm hy vọng ở Đức Phật tương lai, Đức Phật Di Lặc. Đức Phật Di Lặc sẽ ra đời và Chánh pháp lại sẽ được tỏ rạng. Mỗi khi nghĩ đến Đức Di Lặc, tôi cứ tưởng tượng đó là một vị Phật có hào quang sáng ngời bao quanh thân thể phương phi đẹp đẽ, có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, đang phóng quang thuyết pháp cho đại chúng nhân thiên nghe. Ngài ngự trên pháp tòa cao rộng, và tôi, tôi đang được quỳ dưới chân Ngài, tai nghe lời Ngài, mắt thấy thân Ngài và mũi ngửi hương áo cà sa của Ngài. Tôi thích quá. Và tôi đã chờ đợi (…).

Trên đây là những điều tôi mong ước, suy nghĩ, tưởng tượng và dự đoán trong thời gian tôi còn ấu thơ. Các bạn định hỏi tôi rằng hiện giờ tôi còn có tin như vậy nữa thôi, có phải không? Vâng, tôi còn tin như vậy, nhưng mà dưới một nhận thức khác hơn, và tôi nghĩ, gần với đạo Phật hơn. Tôi thấy hình dung đức Phật Di Lặc mà tôi phác họa trong trí tôi dạo ấy có vẻ công thức quá, và ngây thơ nữa. Hình dung ấy, tôi đã cấu tạo nên bằng những đoạn tả đức Phật thuyết pháp trong các kinh điển, bằng những bức họa về Phật của người Trung Hoa và bằng những tưởng tượng quy ngưỡng của riêng tôi. Tôi nghĩ rằng không lý đức Phật lại xuất hiện ở thế kỷ chúng ta với một hình thức cổ điển và có tính cách hình thức như vậy. Đức Phật của thế kỷ chúng ta sẽ là bậc Chánh biến tri, thông hiểu văn hóa sử nhân loại trên trái đất chúng ta, thấu đạt mọi ý thức hệ hiện hữu soi rõ mọi tình tiết và tâm niệm của chúng ta. Ngài sẽ tạo nên nền văn hóa tổng hợp của nhân loại, vạch con đường giải thoát cho nhân loại. Chúng ta đang bị tắc lối, chúng ta đang bị ràng buộc bởi bao sợi dây khổ đau, vô minh, phiền não, những thập triền thập sử mà thế kỷ đã tạo nên và chúng ta đã dùng để tự buộc chúng ta. Trong kinh điển mới, sẽ có những danh từ mới. Trong công cuộc hoằng pháp mới sẽ có những phương thức mới. Trong sự tu tập giải phóng con người – ta và kẻ khác – sẽ có những phương pháp mới. Làm sao những cái hết sức hiện đại như vậy có thể biểu dương trong một hình thức cổ điển và ngây ngô như tôi đã tưởng tượng mười mấy năm về trước?

Có một hôm, tôi đọc kinh Kim Cương đến các câu “bất khả dĩ tam thập nhị tướng kiến Như Lai” (không thể nhận thức Đức Như Lai qua một sắc thân có ba mươi hai tướng đẹp) và “nhược dĩ sắc kiến ngã dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhân hành tà đạo bất năng kiến Như Lai” (kẻ nào muốn thấy Ta qua hình sắc và âm thanh, kẻ ấy hành tà đạo, chẳng bao giờ thấy được Ta), bất giác chợt hiểu rằng Đức Phật của thế kỷ chúng ta sẽ không dễ mà nhận biết được đâu. Ngài có thể không mang tên Từ Thị Di Lặc; Ngài có thể không mang sắc thân tam thập nhị tướng; Ngài có thể không tự xưng là Phật đà gia (Buddhaya); Ngài có thể không cần hai vị đứng hầu hai bên; Ngài có thể không khoác y màu vàng; Ngài có thể… ôi tôi biết nói làm sao cho hết, chỉ biết nói rằng Ngài có thể xuất hiện trong bất cứ một hình thức nào, miễn Ngài là Bậc Chánh biến tri, miễn Ngài là Bậc giải nguy cho nhân loại trong thế kỷ đấu tranh kiên cố, miễn Ngài là Bậc tạo nên văn hóa tổng hợp và dẫn đạo cho loài người về hòa bình, hạnh phúc, giác ngộ và Niết Bàn. Nói một cách khác, Ngài là Bậc đại nhân có một nội dung tràn đầy Phật chất.

Tôi nói dông dài như trên chẳng qua chỉ là để trở về với hai chữ mạt pháp. Bởi vì tôi quan niệm rằng nguyên do của sự mạt pháp là tại ở người Phật tử từ lâu chỉ có ý hướng bảo bọc sơn thếp một hình thức tôn giáo không còn chứa đựng nội dung Phật chất.

Mạt pháp có nghĩa là bám víu tôn thờ chấp chặt hình thức mà để cho nội dung tàn lụi. Nhưng mà các bạn hãy cho tôi nói thẳng những cảm nghĩ chân thành của tôi. Phật chất cần thiết mà tôi nói đây là sự chứng đắc, là sự tiếp xúc thường xuyên giữa tâm linh và chân lý, giữa tâm linh và bản thể, giữa tâm linh và Niết bàn. Phật chất ấy không biết đến hình thức, không biết đến hưng phế, không biết đến tổ chức, không biết đến bàn cãi, không biết đến quy chế, không biết đến lo toan, không biết đến vôi gạch. Không biết, nhưng mà cái gì cũng biết. Nghĩa là có sự hiện hữu của Phật chất thì tất cả đều có. Và nghĩa là nếu không có sự hiện hữu của Phật chất thì tất cả những cái kia đều là vô nghĩa, đều không có.

Vậy thì Pháp mà mạt không phải là do chúng ta không giữ gìn nó mà chính vì chúng ta đã giữ gìn nó chặt chẽ quá, ôm ấp nó kỹ lưỡng quá.

Và một ngày kia, chúng ta sẽ đau khổ nhìn thấy, trong vòng tay cứng nhắc và siết chặt của ta, nó chỉ còn là một cái xác không hồn. Cái xác sơn phết bóng lộn.
Vấn đề là vấn đề thực hiện, thực hiện liên tục nguồn sinh hoạt Phật chất, chứ không phải là vấn đề cố thủ, bảo bọc.

Đạo pháp chỉ có sinh lực trong những thời đại có tu tập, có chứng ngộ. Chúng ta không nên chờ đợi Đức Di Lặc một cách quá ngây thơ. Chúng ta phải sửa soạn đón tiếp Ngài.
Sửa soạn như thế nào? Sửa soạn một khung cảnh nhân tâm hướng thiện, một khung cảnh thực chất của đạo pháp, xứng đáng làm nơi ngự tọa của một Đức Phật. Khung cảnh ấy được xây dựng bằng cộng nghiệp hướng thượng của chúng ta, của tâm linh chúng ta. Không còn chỗ nào xứng đáng cho Ngài ngự tọa hơn là ngôi vị trong sạch của tâm hồn ta. Bằng không, Ngài có thể xuất hiện bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào mà chúng ta vẫn không hay không biết, bởi vì mắt chúng ta mù lòa, bởi vì tâm chúng ta vẩn đục, bởi vì hai tay chúng ta bị trói chặt trong dây xiềng hình thức.

Tôi tin rằng thế giới chúng ta đã quá đau thương, và Ngài đã hiện về hoặc sẽ hiện về. Văn hóa loài người đang đi tới thế tổng hợp. Ngài sẽ là bậc hướng đạo quang minh cho toàn thể nhân loại. Đừng than phiền đời này là đời mạt pháp. Hãy buông bỏ hình thức. Hãy phủi sạch hai tay. Hãy đứng lên, gạt qua những mối tơ vò của thế kỷ. Hãy để tâm hồn trong sạch lắng đọng. Và hãy tiếp nhận hình bóng tròn đầy của mặt trăng đêm rằm xuất hiện trong biển lặng tâm linh của mình.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có dạy rằng giáo pháp của Ngài sẽ rực rỡ an trú ở thế gian này trong một thời gian thôi, tiếp theo đó nhân loại đi vào thời tượng pháp. Tượng có nghĩa là na ná, là giống như; tượng pháp có nghĩa là giáo pháp giống như Chánh pháp, nhưng không hẳn là Chánh pháp. Tiếp theo thời tượng pháp, là thời mạt pháp, thời giáo pháp suy đồi và ẩn mật. Khi đó, một Đức Phật khác sẽ ra đời để khai mở cho nhân loại một kỷ nguyên chính pháp mới: đó là Đức Phật Di Lặc.

Đức Phật Thích Ca là một Bậc Giác ngộ, một Đấng Pháp vương. Nhưng Ngài đã nói tiếng nói của con người. Vì Ngài đã là một con người đã sống trong xã hội loài người, đã khai thị chân lý vì con người, cho nên ta có thể, trên bình diện con người của chúng ta, nhận thức được nội dung của tiếng nói Ngài một cách chân xác. Khi Ngài nêu lên một khoảng thời gian phỏng định cho sự lưu hành của chính pháp Ngài, Ngài đã căn cứ trên những nhận định lúc bấy giờ của Ngài về xã hội, về thời gian. Quan niệm về năm tháng của Ngài, cũng như của bất cứ một người nào đã sống cách đây hơn hai ngàn năm trăm năm, không thể giống như quan niệm về năm tháng của chúng ta, những con người sống trong thời đại mới. Nhân loại xã hội trong thời đại chúng ta đã và đang đi những bước khổng lồ về tương lai chứ không phải đã và đang trôi một cách chậm chạp lững lờ như vào khoảng sáu trăm năm trước Tây lịch. Như vậy, ta không nên lấy 5.000 năm ước định để làm khoảng thời gian chia cách hai Đức Phật, Đức Phật Thích Ca và Đức Phật Di Lặc. Chỉ nên nhớ rằng: Khi Phật pháp đã tới thời cùng mạt, nói một cách khác hơn, khi nhân loại đã đi đến giai đoạn cùng cực nhất vì loạn lạc, vì phân tán, vì khổ đau, thì đó chính là lúc Đức Phật Di Lặc phải xuất hiện để mở một con đường mới cho xã hội loài người.

Pháp mà mạt là do chúng ta đã không cố gắng thực hiện dòng sinh hoạt Phật chất ở bản thân và ở những hình thái sinh hoạt của xã hội chúng ta. Chúng ta chỉ lo bảo tồn những hình thái sinh hoạt cũ không đáp ứng được với căn cơ của xã hội và do đó không thể hiện được những nguyên lý Phật học. Những nguyên lý ấy hết sức linh động, và ta chỉ có thể nói rằng những sinh hoạt nào muốn khế lý bao giờ cũng phải khế cơ. Vì sao? Khế lý là để khế cơ. Mục đích của đạo Phật là phụng sự con người, nếu không khế hợp con người thì sao gọi là đạo Phật, sao gọi là khế hợp với chân lý đạo Phật?

Mà căn cơ của con người mới, của xã hội mới là những căn cơ hết sức phiền toái, phức tạp. Ai cũng nhận thấy rằng con người mới có những ao ước, những đòi hỏi, những thao thức… nói tóm lại, những sinh hoạt tâm lý hết sức phiền tạp. Con người mới lại sống trong một thời đại mới, một thế giới mới, một xã hội mới với những sinh hoạt kinh tế, chính trị, tôn giáo, văn học… không còn giống gì với xã hội cũ cách đây hàng ngàn năm. Làm gì có thể khế cơ được (ít nhất là khế cơ một cách hoàn toàn), những hình thức sinh hoạt của hai ngàn năm trăm năm về trước? Trong kinh có chép chuyện một vị thiền sư vì lòng từ bi không muốn giẫm đạp lên các sinh vật cho nên mỗi khi đi đâu đều có cầm một cây chổi, quét một lát chổi, đặt một bước chân. Vào thời xưa, trong khung cảnh nên thơ của thôn làng, hành vi đó được nhận định là đẹp như một bài thơ nhân ái, nói lên được tâm niệm từ bi của một con người thấm nhuần đạo lý. Nhưng giá bây giờ có một vị Tăng bắt chước làm y hệt như thế trên những con đường của Sài Gòn chẳng hạn, ta thử đoán xem quần chúng sẽ nghĩ như thế nào về vị Tăng đó? Quần chúng sẽ cho đó là một người không bình thường, hành động đó đã không khế hợp với căn cơ của con người bây giờ (kể cả căn cơ của người chủ động), lại cũng không còn khế hợp với những nguyên lý Phật học, mà trái lại, có thể làm mai một các nguyên lý ấy nữa. Không khế lý, không khế cơ con người, những lề lối sinh hoạt như trên làm sao được gọi là đạo Phật và đã không phải là đạo Phật, tại sao chúng ta cố thủ chặt chẽ như thế?

Vậy thì sự xuất hiện của Đức Phật Di Lặc phải được nhận định như là một cuộc vận động mới để làm sống dậy dòng sinh hoạt Phật chất trong những sinh hoạt vừa khế hợp căn cơ nhân loại, vừa khế hợp với những nguyên lý Phật giáo. Nếu không khế hợp căn cơ con người, những sinh hoạt được mệnh danh là của Đạo Phật chỉ có thể còn là những xác cũ không còn chứa đựng Phật chất; nếu không khế hợp với những nguyên lý Phật học, những sinh hoạt kia sẽ có thể chỉ là ma nghiệp phục vụ cho lòng dục vọng và óc u mê của ma vương, của chúng sinh. Lịch sử đạo pháp đã ghi những nét son của những cuộc biến cải cần thiết để làm sống dậy rạt rào những khí lực của Phật giáo: Mã Minh, Long Thọ, Vô Trước v.v… đều là những nhà đại cách mệnh của Phật giáo. Gia sản văn hóa hiện hữu mà chúng ta được thừa hưởng của Phật giáo ở Á Đông một phần lớn chính là do công trình tạo dựng của những bậc trượng phu như thế.
Các bậc vĩ nhân kia đều là những nhà đại văn hóa, những nhà đạo học đã thấu hiểu được con người của thời đại họ, đã thấu hiểu xã hội của thời đại họ, và đã đáp ứng được những nhu yếu của những khu vực văn hóa riêng biệt trong đó họ đang sống. Nhưng bây giờ thì khác. Chúng ta không có những khu văn hóa riêng tư nữa. Những khu vực văn hóa đều đã mở cửa rộng rãi. Những ranh giới văn hóa đã được tháo tung. Nhân loại đang tiến tới nền văn hóa tổng hợp. Công cuộc tổng hợp vĩ đại này phải do một con người đầy đủ kiến thức về con người, đầy đủ nhận định về xã hội con người, đầy đủ trí năng và tâm thức để có thể hướng dẫn loài người, đứng ra lãnh đạo. Một nhà văn hóa có đầy đủ chánh biến tri, có đủ đại hùng, đại bi, đại lực, đại nguyện như thế, ta phải gọi đó là một Đức Phật. Đó là Đức Phật Di Lặc, Con Người cấp thiết của thế kỷ chúng ta.

 (Trích theo Đạo Phật đi vào cuộc đời)

Thiền sư NHẤT HẠNH

Tìm hiểu kiến thức tâm linh cơ bản

Posted on

NHỮNG CẤU TRÚC TÂM LINH SIÊU HÌNH CỦA CON NGƯỜI


A và B : Là những thể vi tế của Vô Thức hay Linh Hồn và vô thức hay linh hồn được cấu tạo bởi hai thần thức âm – và dương + thượng đẳng của con người . 
C : Tất cả Vô Thức , hay linh hồn của con người hay nhân loại đều có sự liên lạc và liên hệ với nhau theo một mô dạng và một công thức đặc biệt . Trong trường hợp bình thường thì nó ở trạng thái độc lập và riêng biệt ở mổi người ; bởi lẻ người thường không hiểu rỏ cơ chế của linh hồn một cách rỏ ràng ,mà chỉ có thể đoán mơ hồ về sự tồn tại của nó . 
D : Con đường gạch đứt đi từ giữa ngực lên đến Âm Dương Thần Thức + – ở trên đầu là con đường siêu thức ANTASKARANA là con đường ánh sáng , nối liền ý thức con người với linh hồn hay vô thức bên trên . Con đường nầy sẻ tải những trường lực hình tư tưởng của người cầu nguyện đi lên linh hồn hay vô thức , và nhờ con đường nầy mà những nguồn cảm hứng hay những thông tin bên trên được mang xuống cho ý thức . Con đường ánh sáng siêu thức ANTASKARANA nầy bị bít , nghẹt và không được khai thông ở đa số người thường ; nhưng nó lại được khai thông ở những vị tu tập đắc đạo , những nhà ngoại cảm cao cấp và một số ít con người mà nảo bộ đã được cấu trúc ở những dạng đặc biệt và đã trang bị sẳn sàng con đường thông lộ nầy cho họ . 
E : Hào quang chung quanh đầu con người là tượng trưng cho ý thức và tiềm thức hòa lẩn vào nhau . 
F : Là con đường nối tiếp tiềm thức và ý thức của con người , nó thường gởi đến và đi các hình tư tưởng của những tư duy , trí nhớ và những ấn tượng thu nhận của ngũ quan vật chất của con người . 
G : Những lằn gạch chung quanh cơ thể là đại biểu cho tiềm thức hay thể vía của con người , nó bao gồm tất cả ấn bản sao tinh hoa của tất cả tế bào vật chất của cơ thể . 
H : Cơ thể vật chất là nơi trú ngụ của hai thể thấp là ý thức và tiềm thức của con người được sinh tồn tại cỏi vật chất . 
I : Hình quả trứng hay oval bao quanh con người là trường từ lực hay thể phách của con người . 
L : Có nhiều con đường vô hình nối liền con người với vật hay người khác khi liên lạc ; như đường chỉ nối liền người nầy với người kia là K , thỉnh thoảng con đường nầy bị ngăn chận bởi một vật khác như khúc gổ J trong hình ; đi theo dọc con đường L , là con đường tải những sinh lực và hình tư tưởng của người dùng thần giao cách cảm hay đọc tư tưởng của người khác . 

ĐỒ HÌNH THỨ 2 
CƠ CHẾ CỦA THẦN GIAO CÁCH CẢM VÀ CẦU NGUYỆN TÂM LINH . 


This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 814×1070.



A .- Là cơ thể vật chất . 
B .- Là thể vía của con người . 
C .- Hình chùm nho ở thể vía là phần hạ thể của con người hay là tiềm thức ; nó sẻ rời cơ thể khi con người chết . 
D .- Con đường vợn sóng dưới chùm nho là đại diện cho sinh lực khí của con người , dùng cho thể vía , và là một bình dự trử điện , dự trử sinh lực khí cho con nggười , nó tủa ra mọi nơi và là đường dây liên lạc cho mọi vật , khi con người tiếp xúc đến những vật nầy . 
E.- Sợi dây nối liền từ rún cơ thể vật chất và thể vía là kim quang tuyến hay là sợi chỉ bạc , nó nối liền thể xác và thể vía của con người , khi thể vía và ý thức rời cơ thể trong lúc ngũ , nhập định hay trong khi xuất vía ;đường răng cưa nằm trong ống là sự lưu thông của sinh lực khí trong đó . 
F.- Vòng tròn hào quang chung quanh đầu tiêu biểu cho ý thức của con người . 
G.- Là đường dây nối tiếp của sự truyền sinh lực và hình tư tưởng của người dùng thần giao cách cảm hay để trị bệnh hay đọc tư tưởng của người khác ở xa . 
H .- Là đường dây truyền dẩn hai chiều từ người nầy qua người khác , nó mang những thông tin của hình tư tưởng và sinh lực khí . Những vòng tròn nhỏ trên đường dây nầy tiêu biểu cho những chỉnh thể tâm linh hoàn chỉnh , được cấu thành do nhiều tinh hoa của nhiều hình tư tưởng khác nhau bao gồm những tín hiệu mả số của các cơ quan cảm quan của con người như nghe , thấy ,nếm , ngưởi v..v…Nói cách khác nó là ngũ quan tâm linh dùng cho thể vía hay thần thức để nghe ,thấy , ngưởi v..v… ở cỏi không gian nhiều chiều đo . 
I . – Là hiệu số điện thế thấp của sinh lực khí chạy trong con đường vận hà ánh sáng ANTASKARANA , mang hình tư tưởng của người cầu nguyện lên linh hồn , và nó giúp linh hồn có năng lượng để tạo những sự kỳ diệu hay những giải đáp toàn hảo xuống cho người cầu nguyện hay sự trị liệu nào đó . 
J .- Ba vạch vợn sóng là tiêu biểu cho hiệu số điện thế cao của sinh lực khí , chạy từ linh hồn xuống dưới đến các thể thấp , như trí , vía , phách và cơ thể vật chất . Hiệu số điện thế cao ( có khả năng phá vở những cấu trúc vật chất của nguyên tử ) của sinh lực khí nầy có thể thay đổi tức khắc những tế bào của cơ thể để trị liệu lành bệnh . Hoặc nó có thể tạo ra những hiện tượng vật lý đặc biệt trên cỏi vật chất . 
K .- Tiêu biểu cho Vô Thức hay linh hồn của con người . 
L .- Con mắt nằm trên đường dây nối liền thể vía và linh hồn , là con mắt tâm linh mà con người dùng để đọc những thông tinh đã sẳn có trong vô thức hay linh hồn , cũng như ngũ quan tâm linh khác , mà con người đắc đạo có thể dùng được để đọc những thông tin ở những cỏi cao hơn . 
M .- Hai đường vợn sóng nằm trong hào quang thể trí của ý thức là tiêu biểu cho hiệu số điện thế trung cấp của sinh lực khí dùng cho ý thức để tư duy hay ý chí . 
NHỮNG PHẠM TRÙ TÂM LINH CON NGƯỜI : 
Tôi có thể có những sự nghi ngờ , nhờ đó tôi biết là tôi . 
Nhờ vào sự nghi ngờ , tôi suy nghỉ tìm tòi , từ đó tôi suy tư và tôi ý thức được TÔI . 
Tôi : là Thức Thần .- Ý thức . 
TÔI : là Nguyên Thần – Bản lai diện mục . 

Phân biệt giữa Ý Thức và Ý thức về Ý Thức 
Ý Thức : là Thức Thần –Âm Thần . 
Ý Thức về Ý Thức : Là Nguyên Thần – Dương Thần . 
Ý Thức không phải là một vật sở hửu khác thường của cấu trúc thuộc về sinh vật và ý thức không phải là lý thuyết về Lượng Tử Học ; Nhưng những cấu trúc của sinh học có thể làm vận hành ý thức và lý thuyết về Lượng Tử Học , thực sự là sản phẩm do Ý thức của chúng ta làm ra . 

Trường sinh thái : Morphogenetics fielLà một mẩu dạng có một trật tự cấu trúc của những đặc tính bên trong của một sinh mô kể , cả nảo bộ con người ; trường nầy được tạo nên bởi một tiến trình cộng hưởng hình thái – Morphic resonance – của những chủng loại trong quá khứ và nó biểu hiện như một ký ức tập thể thuộc chủng loại của nó . Các loại sinh vật có thể bắt liên lạc với nó – tune in – xuyên qua nó để có được những thông in về hình thái và kinh nghiệm của chủng loại của mình ; Vật chất di truyền từ trong DNA của những Genes , có thể tạo ảnh hưởng lên hệ thống bắt sóng nầy , nhưng những mẩu dạng và bản năng sinh thái nầy không có nằm trong sự thừa hưởng di truyền của DNA ; cũng giống như những hình ảnh ghi nhận được trong màn ảnh tv , không có nghĩa là chúng có sẳn trong những dây điện và transitor của tv ; đương nhiên là mạch điện của tv cần phải bắt đúng , nhưng những hình ảnh là do sự bắt sóng từ bên ngoài tv . Giống như thế , bộ nảo con người giống như một hệ thống bắt sóng phức tạp , nó thể rà bắt được những làn sóng của quá khứ cũng như chung quanh qua sự cộng hưởng của trường sinh thái nầy – Như vậy , bộ nảo của con người có thể rà các làn sóng để bắt được ký ức của mình và ký ức của những người khác qua sự cộng hưởng của trường sinh thái vũ trụ nầy , trương tự như lý thuyết về Ký Ức Tập Thể – Collective Unconscious – của Nhà Tâm Lý Học C.G.JungMorphogenetics fields .

Hạ thể : Lower self – Astral body – Sub-conscious -Là thể vía hay tiềm thức . Nó có sự liên lạc với dương thần , ký ức của dương thần và linh hồn hay vô thức của con người .

Trung thể : Midle self – Conscious – Là ý thức trong cỏi hạ trí , được sự hướng dẩn của thần thức tâm linh hay là dương thần – Spirit . Ý thức còn là Thần giữ cửa Gate keeper – Filter của thể xác ở hai cỏi vật chất và cỏi vía .

Thượng thể : Higher self – Nó gồm hai phần âm dương là Spirit – Dương Thần hay Thần thức – Âm Thần hay linh hồn cá nhân hay vô thức . Dương và âm thần là hai mặt của một thể là linh hồn cá nhân nằm trong linh hồn của vũ trụ hay là Ký Ức của vũ trụ hay Tiên thiên ký ảnh –AKASHIC RECORD .

Ba hồn bảy vía :
Ba hồn là Giác hồn ( Thể Trí – Dương thần ) – Hương hồn ( Tinh tú Thể – Tiềm thức )– Sinh hồn ( Thể Phách – Sinh mạng lực ). Bảy vía là : Tham –Sân – Si – Hỷ – Nộ – Ái – Ố .

Ba hồn , bảy phách :
Hồn thuộc Mộc , nằm ở gan , kỳ số là 3 . Phách thuộc Kim nằm ở phổi , kỳ số là 7 . Theo Thần vảng lai gọi là Hồn . Theo Tinh xuất nhập gọi là phách

Thể vía : gồm chỉ hai thể : 1.- là để chỉ lục dục , thất tình của con người . 2.- là chỉ Tinh Tú thể là Astral body , thể ánh sáng .

Nhị Thần : là tên của Dục thần , là thể vía , thuộc phần tình cảm con người , là tính của khí chất , được sinh ra do sự cấu tinh của cha mẹ , thức thần nhập vào khi đứa bé đã sanh ra khỏi bụng mẹ , thức thần là thần của túc mạng ; dục thần là tình dục thể , thấy vật liền sanh tình , thức thần do túc căn mà lại , nên linh hoạt thông minh kỳ hảo , luôn luôn tư duy kim cổ , không lúc nào ngừng . Nên khi luyện đơn , của đạo gia cần trừ đi sự nhiểu loạn của dục thần , sau đó mới thấy được nguyên tinh và nguyên thần , để ngũ khí triều nguyên , tam hoa tụ đỉnh .

Tam Thần :
1.- Nguyên Thần : là Linh Hồn , Vô trí vô thức , A lại da – 2.- Dục Thần : dục thần là tính của khí chất , là tình dục thể , thấy vật liền sanh tình , 3.-Thức Thần : là Ý thức và tiềm thức Đa trí đa thức –

Tứ Thần :
Là Chân Thần : là Dương Thần , Ký ức dương thần , Thượng trí , viên trí , viên thức . Do dùng ba thần kia tu luyện mà thành ra Chân Thần .



Linh hồn cá nhân – Soul – là nơi cư ngụ của trí nhớ và ký ức , là tấm gương phản ảnh tâm trí của mổi người .

Linh hồn là nơi ngụ của ký ức ; nơi đây đã có chứa sẳn và ghi giữ tất cả những dử kiện của chúng ta .
Linh hồn vũ trụ còn có tên khác là vô thức của tập thể COLLECTIVE UNCONSCIOUS hay Ký Ức của Vũ trụ AKASHIC RECORD .

Ý Thức – Conscious là kẻ tư duy – The Thinker , nhưng khi kẻ nầy tư duy thì nó lại đi vào tiềm thức và vô thức để lấy dử kiện và thông tin làm chất liệu cho tư duy của nó .

Tinh thần hay dương thần – Spirit , hay Tâm như một đại diển viên , linh hồn cá nhân –Soul , như môi trường hoạt động của tâm và thể xác vật chất – Body là kết quả của nó .Chúng ta có thể cho Linh hồn cá nhân như một lực mù lòa , vâng theo mệnh lệnh ý chí của tâm thần – dương thần – Spirit , và thể xác là kết quả của tâm thần được thể hiện sự hoạt động của nó xuyên qua khuôn mẩu vật chất .
Con người tự giác ra mình có khả năng tự ý thức và khám phá ra rằng mình đã được trang bị một khả năng tinh thần và trí lực , một thể xác và một môi trường để hoạt động .Từ đó con người khám phá ra những qui luật của thiên nhiên và những qui luật nầy có sự liên hệ mật thiết với nhau ; cuối cùng con người biết rằng cần tuân theo và hợp tác với thiên nhiên và vạn vật , thì thiên nhiên và vạn vật sẻ phục vụ lại con người .

Man , know thyself . Con người hảy tự biết mình . Con người đầu tiên khám phá ra rằng mình có khả năng tư duy , là một sự kiện cụ thể ; con người luôn luôn có thể tư duy và sự kiện nầy đả chứng minh sự tồn tại của mình , tôi tư duy , tôi tồn tại ; sự tư duy nầy cho con người có một khả năng biết được những nhu cầu của mình và có khả năng tự cung cấp cho những nhu cầu đó . Và điều đó đã trở thành tự động , khả năng tư duy nầy luôn đi cùng hắn và khi con người chết thì khả năng nầy cũng chết theo . Như vậy bộ nảo vật chất là cơ quan của tư duy . Bộ nảo chết , thì tư duy tiêu tan .
Con người không có cách gì để hiểu Thượng Đế bằng việc nghiên cứu con người , hay nói cách khác là Thượng Đế hảy tự khám phá ra mình .

Tâm thần –dương thần – Spirit là hoạt động và tự thức ; tâm thần là ý thức và có khả năng tự thức .

Linh hồn cá nhân là một lực mù lòa , không tự biết mà chỉ hành động ; nên nó được gọi là người đầy tớ của thần thức và là môi trường hoạt động của tư duy , sức mạnh và hành động của thần thức . Linh hồn chỉ biết làm , mà không biết tại sao . Như tấm gương phản chiếu hình ảnh của tâm thức vậy . Linh hồn là vật chất của tâm thần ý thức , linh hồn có khả năng thực thi nhửng mệnh lệnh của ý thức .

Con người không tạo ra những qui luật và nguyên tắc , nhưng con người chỉ khám phá ra những qui luật và nguyên tắc nầy và ứng dụng chúng nó mà thôi , qui luật và những nguyên tắc của tâm linh cũng vậy .

Tất cả nhân loại sống trong ba dạng : Tâm thần – Linh hồn và Thể xác hay nói cách khác là biểu hiện dưới ba thể : Trí óc thông minh – Tinh lực – Khuôn Mẩu vật chất hay Nguyên nhân tác động – Môi trường – Kết quả . Khoa học Tâm linh bắt đầu nơi khoa học vật lý chấm dứt – Metaphysics begins where physics leave off . Tất cả vạn vật đều ở trạng thái hoạt động , mọi vật trong thế giới vật chất hay có hình thể đều có những tầng số rung động khác nhau và là kết quả của nó .

Ký ức vũ trụ – Tiên thiên ký ảnh – Linh hồn vũ trụ – Akashic record – The book of life :
Là một nơi trong không gian mà mắt thường không thấy được ; là nơi ghi chép và cất giữ tất cả những sinh hoạt và ký ức của vạn vật , trong đó bao gồm đủ loại bức xạ tàn dư của con người và sinh vật …..

Sinh Quang Tử : Biophotonics – Là một đơn bị sinh quang lượng tử được luôn phóng xuất ra từ tất cả sinh vật sống ; sinh quang lượng tử là chủ đề nghiên cứu của vật lý Lượng Tử Học và sinh quang lượng tử phơi bày những hiện tượng vũ trụ của các hệ thống sinh tồn của sinh vật .

Bức xạ hoại tữ : (Necrotic Radiation ) :


Là một loại hình laser sinh thái điện từ chứa nhiều làn sóng khác nhau được phóng ra từ một sinh vật khi chết .
Is a kind of the electromagnetic holographic replica of the dying organism alike a multidimensional wave packet , emission from a dying organism . Janusz Slawinski followed the link between biophotons and biochemical reaction .
– Nhà vật lý Balan – Department of Radio & Photochemistry , Intitute of Chemistry & Technical Electrochemistry , Poznan University of Technology Piotrowo Str.3 , 60-965 Ponan , Poland
Email :slawinski@sol.poznan.pl

Bức xạ tàn dư :
Là một phần nhỏ của linh hồn cá nhân ……nằm trong linh hồn vũ trụ hay ký ức của vũ trụ hay là Tiên thiên ký ảnh – AKASHIC RECORD ; là một mẩu thông tin được mả hóa hoàn chỉnh hay không hoàn chỉnh của con người hay con thú trước khi chết phóng xuất ra và được lưu giữ trong môi trường chung quanh .

Bức xạ tàn dư hoàn chỉnh :
So sánh như phần mềm software được thảo chương tự động hóa trong bộ nảo vi tính được gắn trong người máy , hay là một dỉa inter- active cd-crom phức hợp cao cấp được hoạt động tự động hóa khi nó được đưa vào một máy vi tính thích hợp kỷ thuật với nó . Là một mẩu thông tin được cấu tạo của thể phách hay thể năng lượng cùng thể vía và thể hạ trí của người chết phóng ra trước khi chết và được lưu giữ ở môi trường chung quanh . Thể nầy khi gặp được điều kiện thích hợp của sự rung động đồng bộ , nảo bộ của người sống hay khí hậu thay đổi của môi trường chung quanh , có thể xuất hiện như một con ma hay Linh thể để cho con người thấy và có thể nói chuyện , ý thức như người sống . Nhưng không còn sự linh hoạt và tự động sinh tồn như thần thức của người sống . Bức xạ tàn dư hoàn chỉnh nầy có thể chứa đựng toàn bộ những kinh nghiệm , ký ức cá nhân , những kiến thức về các bộ môn khoa học nhân văn hay khoa học xã hội hay những khả năng chuyên môn của người chết , được ghi chép vào đó .Và nó luôn phóng ra những làn sóng rung động như đài tv phát sóng , nó sẻ được thâu nhận và tái hiện tất cả tinh hoa của nó tự động trong đầu của một người nào đó , mà nảo bộ có một cấu trúc đặt biệt có thể thu nhận làn sóng nầy và thân xác cá nhân của người nầy sẻ là môi trường để những tinh hoa nầy hoạt động thể hiện ra ở thế giới vật chất trong xã hội . Vì bức xạ tàn dư hoàn chỉnh nầy có đầy đũ những tinh hoa như thế , nên khi nó được thể hiện trở lại sự thu hút đồng bộ của một người nào đó , thì hiện tượng luân hồi , hay linh hồn kiếp trước được đầu thai trở lại .

Bức xạ tàn dư bán hoàn chỉnh :
Là một mẩu thông tin được cấu tạo bởi thể phách và thể vía . Nó có thể hiện ra như một bóng ma than khóc , trêu cợt hay hù nhát người khác , nhưng không gây tác hại , nếu con người biết nó và không sợ nó .

Bức xạ tàn dư không hoàn chỉnh :
Là một mẩu thông tin được cấu tạo bởi thể phách , còn phần thể vía và thể trí đã bị tan mất . Nó có thể hiện lên như một bóng ma mờ ảo khi ẩn , khi hiện và rất tiêu cực , không có gây ra một sự phá hoại hay hù nhát nào cả , nếu có là do con người không biết mà tự kinh sợ nó .

Phowa :
Là kỷ thuật chuyển di thần thức và linh hồn của một người xuyên qua hài nhi được sanh ra từ trong bụng mẹ ; nhưng kinh nghiệm và khả năng kiến thức có thể không được hoàn hảo bảo toàn và có thể bị rơi mất hoặc thất lạc . Nhưng thật sự kỷ thuật Phowa chỉ giúp người chết được chết một cách an lạc và êm ái và sau đó thần thức cũng bị tan rả sau khi bộ óc xác thịt bị chết . Khi đứa trẻ đã được sinh ra và được thần thức của một người nào đó , dùng kỷ thuật Đoạt xã mà nhập vào , nên trí nhớ và khả năng kinh nghiệm liền có , mà không cần học hỏi , nhưng người ta tưởng rằng là do linh hồn tái sinh đã nhập vào bụng mẹ trước khi sinh ra . Vì không biết nên gười ta lầm lẩn Phowa tái sinh và Phowa trọng thức hay là Đoạt xã ; thực sự là hai kỷ thuật khác nhau .

Phowa : Thuật chuyển di thần thức :
Có 3 loại thành tựu : Thượng đẳng là chuyển thức thành Pháp Thân . Trung đẳng chuyển thức thành Báo Thân . Tam Đẳng chuyển thức trở về làm người , là chuyển thức thành Hoá Thân .Có hai kỷ thuật tập luyện Phowa , một kỷ thuật dùng tập luyện thường ngày và một kỷ thuật được xử dụng trong lúc lâm chung ……..

Phowa Trọng Giác hay Đoạt xã : Còn có tên gọi khác là Tá Thi Hoàn Hồn .
Là một phương pháp chuyển di Thần thức và Linh Hồn của mình đi qua một người khác và hoàn toàn làm chủ thể xác nầy như một chủ nhân chính thức . Qua kỷ thuật nầy , tất cả kinh nghiệm cùng kiến thức khả năng của người đó , đều được bảo tồn không bị thất thoát . Nên người thường không biết và thường nói là cha mẹ sinh con trời sinh tính . Đoạt xã khác với Phụ Thể hay ma nhập , vì ma nhập là một trạng thái mà y học tâm thần ngày nay gọi là một con người hai cá tính , mà bên trong người nầy có hai ý thức thể đang tranh giành quyền xử dụng thể xác nầy ; Sáng thì là một người Đạo đức , đến tối thì hoàn toàn là một người Sa Đọa khác . Đây là kỷ thuật chuyển di thần thức cao cấp của Mật tông và Đạo gia .

Antaskarana : Siêu thức tuyến – Là con đường giao thông mà ý thức của những người đắc đạo , ngoại cảm cao cấp hay thiên tài bẩm sinh có thể dùng để liên lạc với thần thức , linh hồn hay ký ức của vũ trụ để mang những thông tin về xử dụng ở thế giới vật chất .

Tiềm thức : Sub-Conscious – Là những ký ức , ấn tượng cảm quan , kiến thức hay kinh nghiệm của một cá nhân , mà người nầy có thể gọi lại , tái hiện lên trên bình diện ý thức một cách dể dàng .

Vô thức : Un-conscious – Là những ký ức , ấn tượng cảm quan , kiến thức hay kinh nghiệm của một cá nhân, được ghi giữ vào đó , mà người bình thường không thể nhớ lại được ; ngoại trừ trường hợp ,người nầy nối được đường thông lộ siêu thức Antaskarana của mình .

Ý thức : Conscious – Hay còn gọi là hạ trí ; Là khả năng tự tri thức và biết tự động tư duy của con người . Ý thức sẽ trở thành dương thần khi con người có định lực và tâm lực cao nhờ sự thiền định .

Dương thần -Solar body – A lại da thức :
Gồm hai phần : Phần thứ nhất là Thần thức hay là thượng trí của con người dùng để hướng dẩn ý thức hạ trí và thể vía . Phần thứ hai là ký ức của dương thần là nơi lưu giữ những ký ức và kinh nghiệm …của một cá nhân trong một đời sống vật chất ( ký ức của dương thần cũng là nơi chứa thể vía hay là tiềm thức của con người ).Ký ức của dương thần được gọi theo bình dân là sổ nam tào bắc đẩu , ghi chép công tội của một người vậy .

Âm thần : Lunar body – Unconcious – Individual soul – Linh hồn cá nhân :
Là nơi chứa phần thứ hai của dương thần là ký ức và linh hồn cá nhân cũng là nơi thông lộ phát và thu thông tin ra thế giới bên ngoài để liên lạc với ký ức của những linh hồn khác và ký ức của vũ trụ hay là linh hồn của vũ trụ .
(
Tự ngã : Là tự thể tồn tại của con người trong suốt đời người ; bộ chỉ huy trung ương của tự ngã là một tập hợp của : Ý thức – Dương thần , ký ức của dương thần và linh hồn cá nhân ; thể xác vật chất của con người có thay đổi theo thời gian , nhưng tự ngã vẩn là một .

Bản ngã : Là toàn bộ ý thức , tình cảm , kinh nghiệm cùng kiến thức của một người được hình thành từ trẻ đến trưởng thành và đến chết , bản ngã của mổi người khác nhau do ảnh hưởng của môi trường , xã hội và gia đình . Bản ngã được biểu hiện do một tập hợp của ý thức , thể vía và tiềm thức . Bản ngã thay đổi , phong phú hóa và phức tạp theo sự trưởng thành của thể xác .

Con người cần phải tập tỉnh thức trong lúc ngũ , trong lúc bỏ xác thân hư cũ và tỉnh thức khi di chuyển sang một thể xác mới ; Như vậy , sinh mạng thức mới được toàn vẹn và liên tục …..

Một chân lý dù đúng , nhưng đều bị mọi người trong một thời đại nào đó , từ chối và lánh xa ; nó sẽ trở thành một viên kim cương trong đá và sẽ làm giàu cho những ai có thể nhìn thấy và biết giá trị của nó .

Hảy nhìn những gì không thể nhìn thấy , hảy nghe những gì không thể nghe được , hảy nói những gì không thể nói được , hảy nghĩ những gì không thể nghĩ được , hảy ý thức những gì không thể ý thức được ; thì đó mới chính là chân lý tuyệt đối .

Một chân lý vĩ đại , bao giờ cũng được người đời và những bậc vĩ nhân giãng giãi một cách mơ hồ và ví von .Nên , nếu ta , có để ý một chút , khi nhìn những hiện tượng chung quanh , mà có thể biết được nguyên nhân ; nhìn tất cả những kết quả cuối cùng có thể biết được hư , thật – có , không ….mà ta không cần phải nói ra , hay cần đến sự chấp nhận hay đồng ý của mọi người . Mặc dù , chân lý nầy không có ai nói đến , hay không được ghi chép rỏ ràng từ trong sách vở . Việc gì cũng có lý do của nó .

Khoa học qui ước :
Là những khoa học đang được xã hội hiện đại chấp nhận .
Khoa Học không qui ước :
Là khoa học chưa được đa số xã hội hiện đại chấp nhận , như Huyền bí học , Năng lượng tự do , Phản lực địa từ , Tâm lực , Linh năng ……